Một số bát tự của doanh nhân Trung Hoa cổ đại

Thứ ba , 03/05/2016, 21:24 GMT+7
     
Đây là một chuyên đề thú vị, có thể giúp cho nghiên cứu và phê phán. Viên thụ sách trong Mệnh phả đã đoán mệnh cho Gia Cát Lượng.

Gia Cát Vũ Hầu

Sinh giờ Tỵ ngày 23 tháng 7 năm Quang Hoà thứ 4 đời Linh đế nhà Hán.

Bát tự của mệnh      Đại vận

Năm           Tân Dậu Tân Kim thiên ấn

Tháng         Bính Thân Canh Kim chính ấn

                      Nhâm Thuỷ kiếp tài 13 Giáp Ngọ

                      Mậu Ngọ chính quan

Ngày          Quý Sửu Quý Thuỷ tỷ kiên

                      Tân Kim thiên ấn 23 Quý Tỵ

                       Kỷ Thổ thiên quan

Giờ             Đinh Tỵ Canh Kim chính ấn

                      Bính Hoả chính tài 33 Nhâm Thìn

                      Mậu Thổ chính quan

Mệnh cung   Nhâm Thìn Ất Mộc thực thần 43 Tân Mão

                      Mậu Thổ chính quan

                     Quý Thuỷ tỷ kiên 55 Canh Dần

Ngày sinh Quý Thuỷ, sinh sau tiết lập thu, Bạch đế nắm quyền, Kim chính đương lệnh, Thuỷ đắc Kim sinh, chính khí suy túc, lại gặp can năm Tân Kim, Trụ năm Dậu Kim và trụ tháng Thân tàng Canh Kim, lại tàng Nhâm Thuỷ, trụ ngày Sửu tàng Tân Kim, lại Tàng Quý Thuỷ, trùng điệp sinh ra và trợ giúp đó là Kim Bạch thuỷ thanh, hiển nhiên dễ thấy. Chỉ tiếc can tháng đơn độc Bính Hoả, không đơn độc không thể chế Kim và cũng không có tác dụng chế thuỷ, huống hồ Bính và Tân Hợp đồng hoá là thuỷ, thành phần của Hoả lại lúc có lúc không, không có nhị Hoả Đinh Tỵ của giờ sinh, không thể chế được vương Kim của đương lệnh, thừa sức giúp tướng thuỷ. Nay đã được nó làm dụng thần chính thức, khi nó làm mưa trời đất thuận thành đã biết.

Theo ngòi bút của tác giả, đại thể cho rằng Gia Cát Lượng từ tuổi trung niên trở về sau, đại vận Kim thuỷ liên hoàn, đi ngược hướng với dụng thần Hoả. Tuy là cúc cung tận lực cũng chỉ đủ làm việc gấp đôi công một nửa. 54 tuổi đại vận Canh Dần, lưu niên Giáp Dần, chi năm Dần xung với chi tháng thân, tương hình với chi giờ Tỵ, cho nên một khi sinh mệnh đi vào tháng 8 Quý Dậu năm đó, ngày 28 Canh Thìn, Kim Thuỷ tràn ra, giờ trợ ước đi ngược, vận nguy khó tránh, chết ỏ trong quân.

Còn Nhâm Thiết Tiêu trong Trích thiên thuỷ thiên vi đã phân tích ngự mệnh Càn Long hoàng đế như sau:

Năm:  kiếp Tân Mão tài Đại Vận Bính Thân

Tháng: quan Đinh Dậu kiếp ất Mùi Giáp Ngọ

Ngày:  Canh Ngọ Quan Ấn Nhâm Thìn

Giờ:   Sát Bính Tý thương Tân Mão Canh Dần

Phê rằng: Thiên can Canh Tân Bính Đinh phôi hợp hoà luyện thu Kim, địa chí Tý Ngọ Mão Dậu lại phối hợp Khảm Ly Chấn Đoài. Chi toàn tứ chính, khí quý tám phương nhưng ngũ hành không Thổ, tuy sinh vào tiết thu, không coi là vượng. Rất hỉ Tý Ngọ phùng xung, thuỷ khắc Hoả, khiến Ngọ Hoả không phá Dậu Kim, đủ để phù chủ, càng hay là Mão Dậu phùng xung, Kim khắc Mộc thì Mão Mộc không trợ Ngọ Hoả, chế phục được nên, Mão Dậu là tầm đoài, chủ nhân nghĩa, Tý Ngọ là Khảm Ly, hưởng trung khí của trời đất và khảm ly đắc chính thể của trời đất, nguyên tiêu không bị diệt, một nhuận một tuyên thông. Toạ hạ đoan môn, Thuỷ Hoả ký tế, cho nên tám phương tâm phục, bốn biển vị đồng. Kim Mã châu nhân, đều lệ thuộc vào bản đồ, bạch lang nguyên thỏ đều quy về dưối trướng. Thiên hạ yên bình.

Khổng Tử

Năm    Canh Tuất    Tháng  Mậu Tý

Ngày   Canh Tý        Giờ      Giáp Thân

Bản thân Canh Kim quy lộc ở chi giờ Thân và can giờ Giáp Mộc là thiên tài của Canh Kim, vốn thuộc khó được, mượn Chi tháng Tý, hàn Thuỷ đương mệnh, tuy nhiên Kim Bạch thuỷ thanh nhưng không tránh khỏi hàn liễm, mà quan tinh Đinh Hoả trong chi năm lại thiên ra ngoài một đôi, bên cạnh bị chi tháng Quý Thuỷ chế ước, khó lòng phát huy. Nhìn chung Khổng Tử suốt đời bôn ba, mệt mà chẳng nên công, không vừa ý trong chính trường, cho nên cuối đời mới mở trường dạy học, học trò ba ngàn người, chứng tỏ Kim Thuỷ lưu thông theo văn lại tốt. Khổng Tử sinh năm Canh Tuất 551 năm trước công nguyên, về bát tự của ông có nhiều cách nói khác nhau, có người nói tháng sinh của ông là Ất Dậu, nói đây để xem xét.

Đường Thái Tông

Năm    Canh Thìn     Tháng  Canh Thìn

Ngày   Canh Thìn      Giờ    Canh Thìn

Đường Thái Tông Lý Thế Dân là một vị minh chủ ở trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ ở ngôi vua khéo biết dùng người trị nước giỏi giang, chết lúc mới 51 tuổi.

Theo sách tưởng mệnh ghi, bát tự của Vũ Chu Thần thánh hoàng đế Vũ Tắc Thiên cũng là bốn Canh Thìn nhưng lại hưởng thọ 81 tuổi. Do hai người có tiếng tăm trên chính trường và phúc lộc dồi dào, cho nên thơ cổ viết rằng: “Canh Thìn phúc lộc toàn, Vũ Hậu và thế dân”. Nhưng sự thực là, Đường Thái Tông lý thế dân sinh năm Kỷ Mùi (599 công

nguyên), Vũ Chu Thần Thánh hoàng đế Vũ Tắc Thiên sinh năm Giáp Thân (624 công nguyên) cho nên bát tự của hai người căn bản không thể là có cả bốn Canh Thìn.

Âu Dương Tu

Năm     Đinh Mùi              Tháng    Mậu Thân

Ngày    Ất Mão                  Giờ       Mậu Dần

Âu Dương Tu là đại văn hào thời Bắc Tống, trụ ngày Ất Mão, sinh vào nguyệt lệnh Mậu Thân, cách thuộc chính quan, thân nhược. Hành vận cả đời, lấy 41 tuổi khởi ở Quý Mão,

Nhâm Dần, hai bước đại vận này rất là huy hoàng: về sau vận nhập Tân Sửu, 66 tuổi nhập Sửu năm thứ nhất, không lộc, Trần Tiểu Thuý phê là: Sửu là sát mộ, nên chết:

Thiệu Ung

Năm   Tân Hợi     Tháng   Tân Sửu

Ngày  Giáp Tý     Giờ        Giáp Tuất

Thiệu Ưng là nhà triết học, nhà đạo học nổi tiếng thời Bắc Tống, tác phẩm có Hoàng Cực Kinh Thể, Y Xuyên kích hoại tập. Ngày sinh của mệnh Giáp Mộc. Sinh vào tháng Sửu cuối đông, chi giờ gặp Tuất, đó là dời gốc thay lá, là hiện tượng, Giáp Mộc gặp dưỡng, thuộc loại đứng đầu giới học sỹ.

Vương An Thạch

Năm   Tân Dậu           Tháng     Canh Tý

Ngày   Quý Mùi           Giờ         Bính Thìn

Vương An Thạch là một nhà cải cách hiển hách trong lịch sử. Ngày sinh Quý Thuỷ, Kiến Lộc ở Tý, thuộc về Kiên Lộc cách cục thuộc khí vượng có ấn. 55 tuổi đi vào đại vận Giáp Ngọ, bắt đầu đi xuống dốc. Nữ sĩ Trần Tiểu Thuý phê: Giáp Mộc, thương quan vận, cương tưởng chết con, Ngọ vận sau đầy xung Tý, hết. Viên Thụ Sách trong mệnh phả thì phân tích là: 66 tuổi Nguyên Hửu, Nguyên Niên Bính Dần, tháng 4 Quý Tỵ, nhận ngày 6 Quý Tỵ, chếp Kim lăng, nếu đại vận gặp Quý, ngày tháng cũng gặp Quý là tối kỵ với mệnh Quý Thuỷ. Tuy thế gặp Hỏa Mộc, cũng khó thắng, lấy đông ép ít, sao lại như thế được.

Tô Thức

Năm     Bính Tý    Tháng  Tân Sửu

Ngày    Quý Hợi     Giờ     Ất Mão

Tô Thức hiệu Đông Pha cư sĩ là tên tuổi lớn, quả là tiếng vang xa. Địa chỉ tứ trụ Hợi Tý Sửu toàn, là Bắc Phương nhất khí cách. Trần Tiểu Thúy nữ sĩ phê là: La võng Ất Tỵ , Thìn vận thử vào tam đẳng, táng ngẫu đinh ưu, còn Mùi thấy  hung, ở Thìn hóa Thủy, lại nói: Tỵ vận xung Hợi, nhập ngục năm Kỷ Mùi, vận mùi xung Sửu, bệnh ở tai, Ngọ vận hết, Mậu  Quý hóa Hỏa

Châu Hy

Năm     Canh Tuất         Tháng       Bính Tuất

Ngày    Giáp Dần       Giờ               Canh Ngọ

Can ngày Giáp Mộc, chuyên lộc ở Dần, địa chi Dần, Ngọ, Tuất hội thành Hoả cục, Mộc Hoả là tượng thông minh, sau nhập Tỵ vận, can giờ Canh sát trường sinh, thọ 71 tuổi mà chết, Viên Thụ Sách đã phê vào cuốỉ vận là: ông hưởng thọ 71 tuổi, thích hợp ở kỷ vận, năm Canh Thân, tháng Canh Thìn, ngày Giáp Tý, giờ Giáp Ngọ, lại thấy Nhật Nguyên Giáp không thắng nổi sự khắc của Tam Canh, Hoả Dần Ngọ Tuất, không thắng được Thuỷ Thân, Tý, Thìn, nên xung. Nhưng lập đạo, lập nhân, là thấy của muôn đời, Mộc Hoả đều sáng, làm gì có quá cực đầu.

Nguyên Thế Tổ

Năm    Ất Hợi           Tháng      Ất Dậu

Ngày   Ất Dậu           Giờ        Ất Dậu

Trong cách cục này, giờ, ngày, tháng, năm thiên can đều là Ất Mộc, thuần nhất không tạp, theo cách nói của sách mệnh, đó là loại cách cục “can Thìn nhất tự”. Thuộc mệnh đại quý, Nguyên Thế Tố tên là Hốt Tất Liệt, là ông vua khai quốc của Triều đại nhà Nguyên, cuộc đời uy vũ chấn động, công lao vô cùng hiển hách.

Minh Thái Tổ

Năm       Mậu Thìn     Tháng          Nhâm Tuất

Ngày      Đinh Sửu     Giờ               Đinh Mùi

Ở mệnh này, nếu địa chi năm, tháng không thấy Thìn, Tuất chỉ là địa chi ngày giờ Sửu, nay được địa chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi của năm, tháng, ngày giờ tứ khố có đủ, như vậy không chỉ vô lo và quý đến bậc thiên tử, nghe nói Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương sau khi lập nghiệp, nghe nói trong thiên hạ có một người có bát tự giống như ông, khiến ông rất lo lắng, nên muốn giết người ấy, sau khi vời đến xem, người ấy là người họ Lý nghèo khổ ở Lạc Dương. Chu Nguyên Chương hỏi người ấy làm gì để sống, ông nói: Tôi nuôi 13 bọng ong để sống. Chu Nguyên Chương nghe xong hả lòng nói: giống hệt nhà nước ta thu thuế ở Ty bố chính 13 tỉnh để chi dùng, so thuế ở 13 tỉnh với 13 bọng ong ngoài con số giống nhau ra, nhưng thực chất khác nhau rất lớn:

Thanh Thánh Tổ

Năm   Giáp Ngọ    Tháng      Mậu Thìn

Ngày  Mậu Thần    Giờ         Đinh Tỵ

Thánh Thánh Tổ Ái Tân Giác La, Huyền Hoa (1654- 1722), 8 tuổi lên ngôi hoàng đế, niên hiệu Khang Hi, là một ông vua biết cách làm vua trong lịch sử Trung Quốc. Can ngày Mậu Thổ, nguyệt lệnh Mậu Thìn, quy lộc ở Tỵ, nên lấy Kim, Thuỷ, Mộc làm dụng thần, kỵ Hoả kỵ Thổ, nhưng cuối đời Khang Hi lại chết ở Hợi vận. Hợi là Thuỷ, tại sao không cát? Viên Thụ Sách giải thích rằng: đến 69 tuổi vẫn hành Hợi vận, Tuế đứng ở Nhâm Dần, ngày 13 tháng 11 trở thành khắc, chết ở vườn sướng xuân, như Lưu Chú nói “toạ thân sợ dần”, không chỉ ngày sinh Mậu Thân cùng với Thái Tuế Nhâm Dần, can khắc chi xung vậy.

Tôn Trung Sơn:

Năm    Ất Sửu      Tháng   Đinh Hợi

Ngày   Đinh Dậu   Giờ       Nhâm Dần

Tôn Trung Sơn (1866-1925 công nguyên) tên văn tự là Dật Tiên, người Hương Sơn Quảng Tây, Tôn Trung Sơn từng làm thầy thuốc, về sau bỏ nghề y đi làm chính trị, đã có nhiều cống hiến xuất sắc trong việc lật đổ vương triều Mãn Thanh, trở thành bậc tiền bối cách mạng trong lịch sử cận đại Trung Quốc, người đương thời gọi là “quốc phụ”, về mệnh của ông, Đinh Hoả sinh ở tháng Hợi tuy thất lệnh, nhưng có 2 ấn, 1 tỷ kiên sinh phù, cho nên phân tích tổng hợp, mệnh thuộc ngày sinh thiên nhược. Kẻ yếu được phù, quyền hành lợi hại, dụng thần lấy tỉ kiên can tháng, thiên ấn can năm, công với can ngày giờ Đinh, Nhâm tác hợp hoá Thuỷ, thương quan trong địa chi Dần chế phục quan tinh, không gây nên hại, hay ở chỗ có Thuỷ, Mộc, Hoả kế nhau mà sinh, cho nên làm được việc lớn. Lại xem đại vận, Hỉ Thuỷ, Hỉ Mộc, Hỉ Hoả, kỵ Kim kỵ Thổ. Năm Ất Sửu Dân quốc thứ 14 là năm kỵ của Tôn Trung Sơn tiên sinh, chủ yếu là do đại vận ở Tỵ, tỵ Dậu Sử tam hợp Kim Cục, Tỵ vận lại xung đề cương Hợi Thuỷ, nên không lộ.

Nguồn: Quang Tuệ
Ton trung son khong tu au duong tu thanh thanh to minh thai to duong thai tong