Đức tính giản dị của Bác Hồ

Thứ tư , 04/02/2015, 20:08 GMT+7
     
Văn học lớp 7!

Cảm nhận của em về bài Đức tính giản dị của Bác Hồ của Phạm Văn Đồng.

Bài làm

Ngày 19/5/1970, Đảng và Chính phủ đã tổ chức trọng thể Lễ kỉ niệm 80 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại buổi lễ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đọc diễn văn với nhan đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh - tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại”. Bài Đức tính giản dị của Bác Hồ trích từ bài diễn văn ấy.

Hai đoạn văn đầu, tác giả khẳng định “sự nhất quán” trong nhân cách vĩ đại của Bác Hồ: “đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất với đời sống bình thường vô cùng giản dị và khiêm tốn”. Tiếp theo, ông ca ngợi Bác Hồ suốt đời “vẫn giữ nguyên phẩm chất cao quý của một người chiến sĩ cách mạng”. Người đã sống và chiến đấu vì một lí tưởng cao quý: “tất cả vì nước vì dân, vì sự nghiệp lớn”. Đạo đức của Người“trong sáng, thanh bạch, tuyệt đẹp”. Phần đầu bài văn cho thấy một giọng văn sôi nổi lôi cuốn, trang trọng, lí lẽ đanh thép hùng hồn, ngôn từ chuẩn mực, đĩnh đạc, biểu cảm: “Điều rất quan trọng”, “đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất”, “vô cùng giản dị và khiêm tốn”, “rất lạ lùng, rất kì diệu”, “một cuộc đời sóng gió”, “vẫn giữ nguyên phẩm chất cao quý”, “tất cả vì nước, vì dân, vì sự nghiệp lớn, trong sáng, thanh bạch, tuyệt đẹp”.

Đoạn văn thứ ba, Phạm Văn Đồng đã chứng minh một cách sáng tỏ đời sống giản dị của Bác Hồ trên ba phương diện: cách ăn, cách ở, cách làm việc.

-     Cách ăn của Bác rất giản dị: “Bữa cơm chỉ có vài ba món rất giản đơn, lúc ăn Bác không để rơi vãi một hột cơm; ăn xong, cái bát bao giờ cũng sạch và thức ăn còn lại được sắp xếp tươm tất”. Tác giả nêu lên bốn chi tiết rất cụ thể để chứng minh cách ăn giản dị của Bác. Phạm Văn Đồng đã từng sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức (1925), đã từng bí mật sang Vân Nam gặp Bác (1940). Và từ những ngày ở chiến khu đến Cách mạng tháng Tám và suốt trong những năm dài kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, ông đã từng sống và làm việc bên cạnh Bác Hồ, nên mới có thể nói một cách tỉ mỉ, cụ thể về cách ăn của Bác như vậy. Đây là một câu văn bình luận rất hay, từ cách ăn, tác giả ca ngợi đạo đức của Bác: “Ở việc làm nhỏ đó, chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất của con người và kính trọng như thế nào người phục vụ”.

-     Cách ở của Bác cũng rất giản dị. Tác giả lập luận tương phản giữa tâm hồn và cách ở của Bác; tâm hồn thì “lộng gió thời đại” mà nhà ở của Bác chỉ là nhà sàn “vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng”. Nơi ở “luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn” do tự tay Bác trồng vàchăm bón. Tác giả đã bình và ca ngợi cách ở giản dị của Bác “thanh bạch và tao nhã biết bao”.

-     Cách làm việc của Bác càng giản dị: “Bác suốt đời làm việc, suốt ngày làm việc, từ việc rất lớn: việc cứu nước, cứu dân đến việc rất nhỏ...”. Phong cách làm việc ấy của Bác thể hiện một tinh thần xả thân, bền bỉ, cần mẫn, chu đáo và rất giản dị. Tác giả nêu lên bốn việc rất nhỏ Bác thường làm để ca ngợi cách làm việc giản dị, chu đáo của Bác như: “trồng cây trong vườn, viết một bức thư cho một đồng chí, nói chuyện với các cháu miền Nam, đi thăm nhà tập thể của công nhân, từ nơi làm việc đến phòng ngủ, nhà ăn”. Là Chủ tịch nước nhưng Bác rất giản dị trong sinh hoạt: “Việc gì Bác tự làm được thì không cần người giúp”, số người giúp việc và phục vụ Hồ Chủ tịch có thể đếm trên đầu ngón tay, mỗi người được Bác đặt cho một cái tên mới “gộp lại là ý chí chiến đấu và chiến thắng: Trường, Kì, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi!”.

Đoạn văn thứ tư, Phạm Văn Đồng bình luận về đời sống của Hồ Chủ tịch. Cách sống giản dị của Bác không phải là “sống khắc khổ theo lối nhà tu hành, thanh tao theo kiểu nhà hiền triết ẩn dật”. Đời sống giản dị, thanh bạch của Bác Hồ là một sự hòa hợp tuyệt đẹp, bởi vì Người đã “sống sôi nổi, phong phú đời sống và cuộc sống đấu tranh gian khổ và ác liệt của quần chúng nhân dân”. Hòa hợp giữa “đời sống vật chất giản dị’ với “đời sống tâm hồn phong phú, với những tư tưởng, tình cảm, những giá trị tinh thần cao đẹp nhất". Hai mặt đối lập mà thống nhất ấy, “là nơi sống thực sự văn minh”, “một gương sáng” mà Bác Hồ đã nêu lên trong thế giới ngày nay. Qua đó, ta thấy cách lập luận của tác giả rất chặt chẽ, lời bình luận rất sắc sảo.

Đoạn văn thứ 5, giải thích và bình luận về cách nói và cách viết giản dị của Bác Hồ. Người nói giản dị, viết giản dị vì Người “muốn cho quần chúng nhân dân hiểu được, nhớ được, làm được”. Những chân lí lớn mà giản dị là khát vọng về độc lập, tự do, thống nhất, về ấm no hạnh phúc của nhân dân ta nên Bác đã nói lên một cách rất giản dị: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí ấy không bao giờ thay đổi”. Những chân lí giản dị mà sâu sắc đó là “sức mạnh vô địch", là “chủ nghĩa anh hùng cách mạng” khi nó đã thâm nhập vào quả tim và bộ óc của hàng triệu con người. Qua đó, tác giả đã chỉ cho chúng ta thấy tư tưởng của Hồ Chủ tịch rất sâu sắc, cách nói cách viết của Người lại rất giản dị, thấm thía.

Văn bản này là một bài văn nghị luận tổng hợp, tác giả đã kết hợp một cách chặt chẽ giữa ba thao tác giải thích, chứng minh, bình luận về “đức tính giản dị của Bác Hồ” trong đời sống sôi nổi, phong phú, và cách nói cách viết rất giản dị về những chân lí lớn, những tư tưởng vĩ đại.

Văn bản nghị luận này thể hiện một lối viết đặc sắc, mẫu mực. Lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng cụ thể, chọn lọc, rất tiêu biểu, lờibình luận sâu sắc, đầy thuyết phục, cách sắp xếp, trình bày lí lẽ, dẫn chứng khúc chiết, sáng tỏ. Giọng văn sôi nổi, tâm huyết, trang trọng, tự hào.

Qua văn bản này, tác giả đã nâng cao lòng kính yêu và biết ơn Bác Hồ trong tâm hồn mỗi chúng ta. Hơn bao giờ hết, bài Đức tính giản dị của Bác Hồ là một bài học quý báu đối với tuổi thơ chúng ta cả về tư tưởng, cả về văn chương.

Qua văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ, em hiểu như thế nào về đức tính giản dị. Hãy trình bày suy nghĩ của mình về đức tính ấy?

Bài làm

Làm người như thế nào, sống như thế nào là câu hỏi lớn day dứt bao nhiêu thế hệ xưa nay. Tại sao mọi người lại thường nhắc đến đức tính giản dị khi nhận xét, đánh giá một ai đó? Như vậy, chắc hẳn giản dị là một đức tính quan trọng của con người. Vậy giản dị là gì?

Giản dị là một đức tính về phong cách sống. Người ta thường nói: con người giản dị, tác phong giản dị, ăn mặc giản dị, lời văn giản dị... Đức tính giản dị đối lập với thói xa hoa, thói phô trương, kiểu cách, làm bộ làm tịch, bày vẽ ra nhiều thủ tục rắc rối, rườm rà. Giản dị là sống tự nhiên, tìm một con đường ngắn nhất để đến với mọi người, mọi việc.

Bác Hồ của chúng ta là một tấm gương sáng lớn về đức tính giản dị. Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: Bình sinh Hồ Chủ tịch là một người rất giản dị. Hồi còn sống ở chiến khu, Chủ tịch Hồ Chí Minh sống chung, ăn chung với cán bộ, bộ đội. Đến bữa cơm, Người lấy thìa chọn thức ăn cho mọi người. Giờ giải lao Người đánh bóng chuyền với mọi người, về ngôn ngữ, tuy Người rất giỏi tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc và nhiều thứ tiếng khác, nhưng Người chủ trương nói tiếng Việt, không thích dùng từ nước ngoài khi không cần thiết, không ai hiểu. Bác Hồ rất ghét phô trương, xa hoa. Đến thăm nơi nào Người không muốn báo trước để người ta tổ chức đón rước mất công, mất việc. TrongDi chúc, Người không muốn sau khi mình mất nhân dân phải tổ chức phúng điếu linh đình.

Nhưng giản dị không phải là đơn giản, thô sơ. Thơ của Bác Hồ chẳng hạn, rất giản dị, nhưng không đơn giản chút nào. Ví như bài Đi đường, dễ hiểu, gợi cảm, không dùng điển cố nhưng lại rất sâu sắc. Giản dị tức là sống, suy nghĩ một cách chân thật, trung thực.

Không nên hiểu giản dị là không ăn mặc đẹp, không đi giày dép; nói năng cộc lốc, không thưa gửi, uống nước không đun sôi, ăn quả xanh. Có bạn hiểu giản dị là ăn nói tùy tiện, thậm chí nói tục ở trong lớp, trước mặt mọi người. Như thế không phải là giản dị, mà là thiếu văn hóa, thiếu tôn trọng người khác. Một người học sinh giản dị, theo em, là người sống khiêm nhường, không khoe khoang, phô trương. Một học sinh giản dị làhọc sinh biết ăn mặc đẹp, lịch sự, sạch sẽ, nhưng không lốlăng. Đó là người hòa nhã, gần gũi với mọi người trong học tập và vui chơi. Đó là người hồn nhiên, học hết mình, không có thái độ giả tạo. Chẳng hạn như không hiểu mà không muốn hỏi bạn, sợ mang tiếng là dốt, hoặc khi biết mà bạn hỏi thì không bảo, giữ kẽ, giữ tủ. Che đậy mình hoặc khoe khoang mình tức là giả tạo, không giản dị.

Tóm lại, giản dị là một đức tính quý báu, đồng thời cũng là một phương hướng tu dưỡng, rèn luyện để làm người của chúng em. Đẹp bao khi mọi người sống với nhau giản dị, chân thật, ấm áp, đầy lòng tin cậy đối với nhau.

 

Đức tính giản dị của Bác Hồ

Có ai đó đã từng nói: Chúng ta không thể trở thành Hồ Chí Minh, nhưng chúng ta có thể học được ở Người những đức tính cao đẹp mà giản dị ấy. Đối với mỗi người Việt Nam, trong tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đức tính giản dị là điều chúng ta dễ nhận thấy và dễ học ở Người.
Bác Hồ coi đức tính khiêm tốn, giản dị là chân lý của cuộc sống. Lối sống khiêm tốn, giản dị bao giờ cũng là sự thù địch với lối sống xa hoa, phù phiếm. Giản dị bao giờ cũng dẫn đến tiết kiệm, còn xa hoa tất dẫn đến lãng phí. Lối sống xa hoa còn dẫn tới tệ tham ô, hối lộ…Hồ Chí Minh khuyên cán bộ, đảng viên phải cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, ít lòng ham muốn vật chất, không háo danh kiêu ngạo. Đó là tư cách người cán bộ cách mạng và Người đã gương mẫu thực hiện.
Là lãnh tụ cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi khinh mọi sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức trang trọng, cầu kỳ, suốt đời giữ một nếp sống thanh bạch, tao nhã, giản dị.
Những ngày tháng sinh hoạt bình dị của Bác, khi có món ăn ngon, Bác không bao giờ ăn một mình, không bao giờ đòi hỏi hoặc gây phiền hà cho người khác về chuyện ăn. Bác nói: “ở đời ai chẳng thích ăn ngon, mặc đẹp, nhưng nếu miếng ngon đó lại đánh đổi bằng sự mệt nhọc, phiền hà của người khác thì không nên”. Trước năm 1965, khi Người chưa bệnh nặng, Người ăn uống chung với các chiến sĩ của đội cảnh vệ, cùng ăn, cùng chia ngọt sẻ bùi với các chiến sĩ. Bác ăn thanh đạm và vẫn giữ khẩu vị quê hương: tương cà, dưa, cá quả kho đường khô và chắc. Khi dọn mâm mời Bác thường phải để thêm một bát con thừa. Vào ăn Bác dự liệu không ăn hết thứ nào thì san sang bát con ấy để về sau người khác còn dùng được. Ăn xong, tự Bác sắp xếp lại và để gọn trong mâm, đậy lồng bàn lại. Đồng chí phục vụ chỉ còn việc bê cả mâm đi. Ở việc làm nhỏ đó, chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất của con người và kính trọng như thế nào người phục vụ.
Về chỗ ở, năm 1941, khi Bác mới về nước là một hang đá thuộc Pắc Pó, Cao Bằng. Sau này, do rút vào hoạt động bí mật nên Bác phải ở nhà riêng nhưng rất đơn giản - nhà làm nhỏ, bốn bề với tay được vì tiết kiệm nguyên vật liệu. Đến năm 1954, Chính phủ chuyển về thủ đô Hà Nội, Bác đã chọn căn phòng nhỏ đơn sơ của người thợ điện bên ao cá để ở. Mãi cho đến năm 1958, Bác mới chuyển về ở căn nhà sàn nhỏ cho đến lúc qua đời. Nhà sàn bố trí đơn giản gồm những đồ dùng rất gần gũi với Bác: một chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, cái máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách cần thiết hàng ngày. Hàng năm, đến ngày sinh nhật Bác, nhiều đoàn thể cơ quan, khách trong nước, khách nước ngoài đến chúc mừng sinh nhật Bác. Khách đến Bác rất vui, nhưng sau Bác bảo sinh nhật Bác là ngày riêng cá nhân mà làm ảnh hưởng nhiều đến thời gian và tiền bạc của tập thể. Bác gặp đồng chí phụ trách công tác bảo vệ, nhờ tìm cho Bác một chỗ yên tĩnh, gần núi, làm một ngôi nhà nhỏ chỉ độ hai đến ba người làm việc, nhưng nhớ là không lấy đất trồng trọt của dân. Khi tìm được một địa điểm trên núi Ba Vì, Bác đồng ý. Thế là gần đến ngày sinh nhật, Bác “tạm lánh” lên làm việc trên đó.
Dù ở đâu, lúc nào Bác cũng để lại ấn tượng tốt đẹp, phong cách mẫu mực của một lãnh tụ. Làm Chủ tịch nước, Bác nhận lấy cho mình được cái quyền sống giản dị, bằng mức sống bình thường của người dân. Thời kỳ kháng chiến, đồ dùng của Bác có chiếc va li nhỏ đựng sách, tài liệu và cái máy chữ, quần áo tư trang cho vào một túi nhỏ. Các đoàn thể tặng Bác nhiều tư trang, đồ dùng, Bác thường đem làm tặng phẩm cho cá nhân, tập thể có thành tích. Kháng chiến thắng lợi, Bác trở về thủ đô, cách ăn mặc của Bác cũng không thay đổi. Bác thường dặn các đồng chí phục vụ khi giặt áo cho Bác thấy chỗ nào rách thì vá lại cho Bác dùng. Quần áo thường ngày Bác thích màu gụ, nên khi may xong đồng chí phục vụ mang sang xí nghiệp Tô Châu nhuộm gụ. Bộ nào hơi cũ là đồng chí thay bộ khác cùng kiểu, cùng màu nên lúc đầu Bác không biết. Một thời gian sau, Bác thấy quần áo vẫn mới, Bác bèn đánh dấu rất kín và phát hiện ra là đồng chí đó đã đổi quần áo của Bác. Bác liền phê bình và từ đó rất khó thay đổi quần áo của Bác. Áo Bác dùng lâu giặt đi giặt lại nhiều lần nên cổ áo bị sờn và rách dần, khi mọi người đề nghị Bác cho thay cái khác, Bác bảo: “Cả cái áo chỉ sờn chỗ cổ mà vứt đi thì không được, chú chịu khó tháo rồi lộn trong ra ngoài, may lại vẫn lành như mới”.
Chúng ta đã nghe nói về đôi dép cao su Bác dùng hơn 20 năm và hiện nay , nó hiện thân trong đời sống nhân dân như một huyền thoại. Đôi dép gắn liền với cuộc đời vĩ đại, đức tính giản dị của Người. Đôi dép của Bác được cắt từ chiếc lốp ô tô quân sự, chiến lợi phẩm của trận phục kích tại Việt Bắc. Khi về Hà Nội, Bác vẫn dùng dép cao su. Đôi dép Bác dùng lâu ngày vẹt cả đế, các quai hay bị tuột phải đóng đinh giữ. Một lần đi thăm Ấn Độ, Bác vẫn đi đôi dép thường ngày. Mọi người trong đoàn thấy thế rất ái ngại nên bàn nhau mang theo một đôi giày vải, lên máy bay nhân lúc Bác ngủ, thay đôi dép bằng đôi giày vải. Khi thức giấc, Bác hỏi dép, anh em trả lời Bác là dép để dưới khoang máy bay. Khi xuống sân bay, Bác yêu cầu lấy dép để Bác đi, Bác bảo đừng lo gì cả, đất nước Ấn Độ cũng nghèo như mình, mới có độc lập nên còn nhiều vất vả. Bác đi dép có tất bên trong là tốt rồi, họ không chê mình đâu. Nhân dịp này Bác muốn gần gũi nhân dân lao động Ấn Độ. Hôm sau, trên các trang báo lớn của Ấn Độ đều hết lời ca ngợi đôi dép Bác Hồ là một huyền thoại. Hôm Bác đến thăm một ngôi chùa, Bác cởi dép để ở ngoài, các phóng viên được dịp quay phim, chụp ảnh đôi dép huyền thoại đó.
Ở Bác, tiết kiệm là hành trang trong cuộc đời. Hành trang của một vị lãnh tụ giản dị như hành trang của một người dân bình thường. Một tờ báo Pháp đã viết về Bác: “Chủ tịch nước Việt Nam giản dị quá đỗi. Quanh năm ông chỉ mặc một bộ kaki xoàng xĩnh và khi những người cộng tác quanh ông để ý với ông rằng với địa vị ông ngày nay, nhiều khi cần phải mặc cho được trang trọng thì ông chỉ mỉm cười trả lời: “Chúng ta tưởng rằng chúng ta được quý trọng vì có áo đẹp mặc, trong khi bao nhiêu đồng bào mình trần đang rét run trong thành phố và các vùng quê?”.
Như vậy, đức tính giản dị của Bác không chỉ đơn thuần là tiết kiệm mà còn thể hiện tấm lòng lo cho dân, cho nước của Người. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, khi đọc Tuyên ngôn độc lập, Bác bỗng dừng lại hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Câu hỏi giản dị và gần gũi của Bác dường như cho ta thấy không có một khoảng cách nào giữa một vị Chủ tịch nước với những người dân bình thường. Gần dân là cuộc sống đời thường hàng ngày của Bác, là ý tưởng vĩnh cửu trong tư tưởng Bác. Suốt đời Bác chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là giành độc lập về cho đất nước, mang tự do hạnh phúc đến nhân dân. Ngay cả đến khi sắp từ biệt thế giới này, Bác vẫn còn căn dặn: “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”. GS Trần Văn Giàu trong bài viết về “Nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh” một lần nữa khẳng định: “Khó hiếm thấy một người đã đạt tới đỉnh cao nhất của vinh quang mà vẫn giữ tính khiêm tốn, giản dị như thuở hàn vi hoạt động trong vòng bất hợp pháp. Gương sáng chói không một hạt bụi nào có thể bám được”.
Mỗi lần được nghe, được biết đến những câu chuyện về Bác, lòng chúng ta xiết bao cảm động và tự so sánh, tự vấn với cuộc sống chúng ta hiện nay. Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn. Đảng đã vạch ra những thời cơ mới và cả những nguy cơ mới đối với sự phát triển của đất nước. Cùng với những mặt tích cực của cơ chế thị trường, của thời mở cửa, những tác động tiêu cực đang xói mòn đạo đức, đời sống văn hoá của nhân dân ta, ngay cả trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. GS Vũ Khiêu đã đặt ra hai câu hỏi lớn để chúng ta phải suy ngẫm: Nếu như Bác còn sống tới hôm nay, Bác sẽ nghĩ như thế nào về những ông quan cách mạng mới, về những người vẫn tự nhận là đầy tớ của nhân dân, nhưng đã có cuộc sống xa hoa gấp trăm ngàn lần cuộc sống của người dân bình thường?; Khi con người chỉ còn biết có cá nhân mình, chỉ ngày đêm chăm lo cho sự giàu có của bản thân và gia đình, tìm mọi cách để ăn ngon, mặc đẹp, thoả mãn những thú vui vật chất thì làm sao còn rung động được trước những cảnh nghèo đói đau khổ của người khác?
Không nghiêm khắc với bản thân mình, không thường xuyên rèn luyện, học tập, cán bộ, đảng viên nhất định sa vào những ý nghĩ tầm thường và sẽ mất dần đi những phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Cho nên, trong hoàn cảnh hiện nay, trước hi sinh lợi ích, tham vọng của cá nhân mình, noi gương Bác, mỗi chúng ta hãy thực hành nếp sống giản dị, tiết kiệm, tránh phô trương, hình thức, xa hoa, lãng phí. Đó cũng chính là việc làm thiết thực để góp phần xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời Bác đã căn dặn.
Th.s Nguyễn Thị Thanh Hòa

 

Đức tính giản dị của Bác Hồ

Khi nói đến người có lối sống giản dị thì mọi người không ai lại không nghĩ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác luôn là đề tài sáng tác của các nhà văn, nhà thơ về những đức tính giản dị. Bác là tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Bác rất bận rộn với công việc. Nhưng dù có ở đâu hay làm việc gì, Bác vẫn luôn giữ lối sống giản dị, thanh bạch và khiêm tốn. Bác đã cho ta nhiều bài học, câu truyện hay về đức tính giản dị quý giá đó.
Giản dị là một phẩm chất vô cùng quý báu của con người. Tạo sự thân thiện, gần gũi và được mọi người yêu thương, cảm thông và giúp đỡ. Đức tính giản dị là sống phù hợp với xã hội, hoàn cảnh gia đình.
Còn thanh bạch là lối sống trong sạch, không ham muốn những cái lợi lộc mà nhường cho những người đang cần nó. Bác có phẩm chất tốt đẹp đó hơn ai hết.
Trong đời sống, sinh hoạt hằng ngày, Bác luôn giữ cách sống giản dị như thế này chúng ta đều biết.
Một ngày Bác ăn ba bữa cơm và chỉ có vài ba món. Khi ăn, Bác rất từ tốn, không để rơi hạt cơm nào. Điều đó cho thấy Bác rất quý công lao của các nông dân làm ra hạt gạo. Ăn xong, cái bát bao giờ cũng sạch và thức ăn còn thừa thì Bác xếp tươm tất. Những lúc có món ngon Bác không bao giờ ăn một mình và chia sẽ với mọi người, cùng ăn, cùng chia sẽ ngọt bùi.
Các vị Chủ tịch bây giờ thì có phủ rộng lớn và đẹp. Nhưng ngày xưa Bác ở trong một cái nhà sàn hoặc là một ngôi nhà nhỏ chỉ vẻn vẹn vài ba phòng. Trong nhà được bố trí những đồ dùng rất gần gũi với Bác : một chiếc giường đơn, cái tủ nhỏ, cái quạt nan, bộ bàn ghế và những quyển sách. Bác suốt đời làm việc từ việc nhỏ đến việc lớn. Bác phải lo rất nhiều công việc, việc cứu nước, cứu dân. Nhưng trong lúc không có việc gì làm, Bác làm những việc nhỏ như : chăm sóc cây, đi thăm các cháu thiếu nhi, viết thư cho chiến sĩ, … Những việc nào làm được, Bác đều tự mình làm mà không cần ai giúp. Vì thế, người giúp việc cho Bác là rất ít.
Trong trang phục cũng vậy, Bác không cầu kì, sang trọng mà lại rất đơn giản chỉ với bộ ka ki. Ngày thường là bộ áo bà ba trong như một người dân vậy. Do bộ quần áo của Bác ít mà lại mặc thường xuyên nên rất dễ bạc màu. Các chú đồng chí thấy thế nên các anh lén lấy quần áo của Bác đem may bộ khác cũng với chất liệu vải đó. Cứ quần áo sắp cũ các anh lại lấy bộ mới để thế vào.    Rồi một ngày Bác thấy lạ : " Vì sao mà đồ mình mặc lâu rồi nhưng nó chẳng cũ, không bạc màu ? ". Thế là Bác mới lấy bút đánh dấu lên bộ đồ. Mọi việc rồi Bác đã phát hiện ra. Bác nói với các chú : " Mặc như thế là phù hợp với nước, với hoàn cảnh, với dân, không cần phải thay ". Đôi giày cao su Bác đã mang nó hơn hai chục năm rồi cũng có khi bị mòn gót. Nhưng Bác không sử dụng giày mới mà lại lấy miếng cao su khác vá vào. Nếu đinh bị tuột thì Bác đóng đinh giữ. Những điều đó cho thấy Bác rất tiết kiệm và sống rất giản dị theo hoàn cảnh của đất nước bấy giờ.
Trong quan hệ với mọi người Bác rất thân mật gần gũi, luôn quan tâm và sẵn lòng giúp đỡ mọi người. Bác đi thăm các cháu thiếu nhi, viết thư hỏi thăm các chiến sĩ. Để có ý chí chiến đấu và chiến thắng Bác đã đặt tên cho các đồng chí những các tên gộp lại thành một câu nói động viên mọi người.
Khi giao tiếp, cư xử với người khác Bác luôn dùng từ ngữ dễ hiểu và lời lẽ đầy thiện cảm. Ngày xưa, dân ta không biết chữ nhiều nên để dân hiểu được, nhớ được, làm được Bác đã dùng những ngôn ngữ rất đơn giản như : " Không có gì quý hơn độc lập, tự do ". Câu ấy thật sâu sắc và đi vào lòng người dân một sức mạnh to lớn. Từ đó, dân ta đã đánh đuổi được quan xâm lược. Bác Hồ là một Chủ tịch nước vĩ đại, cả cuộc đời Bác cống hiến lợi ích cho dân, cho nước.
Ngày xưa, thời tiết nóng nực, các anh cảnh vệ đã lén gắn một cái máy lạnh cho Bác. Nhưng Bác lại đề nghị tháo ra và gắn cho các chiến sĩ bị thương.
Bác không ham muốn những lợi ích cá nhân mà luôn sẻ chia cho người khác. Không chú trọng quá về hình thức bên ngoài nhưng nó cũng không có nghĩa là quá bê tha, không đua đòi theo vật chất mà phải sống phù hợp với xã hội và hoàn cảnh gia đình. Trong lời nói, giao tiếp phải lịch sự, hòa đồng. Ai mà có lối sống giản dị luôn được mọi người yêu quý, giúp đỡ.
Bác Hồ có một đời sống vô cùng giản dị. Bác sống hòa nhịp cùng với con người Việt Nam.
Nguồn: Chơi Phong Thủy
Duc tinh gian di bac ho trong long chung ta van hoc lop 7 chon loc