Dàn ý vẻ đẹp của hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.

Thứ ba , 18/10/2016, 05:44 GMT+7
     
Đề bài Vẻ đẹp của hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.   
 
Hướng dẫn lập dàn ý 
 
1. Mở bài
 
Giới thiệu: vẻ đẹp hình tượng người nông dân trong Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
 
2. Thân bài
 
a. Hoàn cảnh sáng tác Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
 
. Thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định (1859)
. Phong trào vũ trang kháng Pháp bùng lên mạnh mẽ (Trương Định).
. Đêm rằm 16-12-1861, Bùi Quang Diệu chỉ huy 3 cánh quân tập kích đồn Tây Dương ở Cần Giuộc.
. Nghĩa quân chiếm được đồn địch, đốt nhà dạy đạo và đâm bị thương đồn trưởng Dumont, chém chết một số lính Mã tà, Ma ní.
. Pháp phải điều động tàu chiến nã đại bác từ sông Cần Giuộc để chiếm lại đồn.
. Phía nghĩa quân hi sinh 27 người.
 
b. Vẻ đẹp người nông dân
 
. Người nông dân Nam Bộ nghèo khó, “côi cút làm ăn”sống đời thầm lặng, cơ cực ở thôn ấp.
. Lòng căm thù, ghét cay ghét đắng trướng hình ảnh kẻ thù xâm chiếm đất nước ta.
. Lòng yêu nước cao độ.
. Tinh thần chiến đấu dũng cảm chống quân thù.
. Hi sinh anh dũng.
 
c. Nhận xét chung Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc.
 
. Những người nghĩa sĩ vô danh vì “chết vinh hơn sống nhục”.
. Tượng đài của nhiều người của một tập thể anh hùng.
. Nguyễn Đình Chiểu là người sớm nhận thấy được khá rõ tinh thần chiến đấu dũng cảm của người nông dân.
 
3. Kết bài
 
Đánh giá chung: Vẻ đẹp hình tượng người nông dân Văn Tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.
 
Bài làm tham khảo 1 Vẻ đẹp của hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.   
 
“Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”.
Hình ảnh người nông dân từ lâu đã đi vào những câu ca dao trữ tình, còn thơ văn trung đại hiếm có những tác phẩm bàn về hình tượng này, nhất là những tác phẩm ca ngợi tinh thần chiến đấu dũng cảm của người nông dân. Có thể nói Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là văn bản hay nhất đề cao vẻ đẹp của hình tượng người nông dân Việt Nam.
Trước hết, chúng ta tìm hiểu hoàn cảnh của người nông dân.
“Súng giặc đất rền,
Lòng dân trời tỏ”.
Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định (17—2—1859), phong trào vũ trang kháng Pháp bùng lên mạnh mẽ ở khắp Gia Định, Định Tường dưới ngọn cờ của Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, trong dó có hoạt động của nghĩa quân do Bùi Quang Diệu chỉ huy phát triển rất mạnh ở vùng Phước Lộc (nay là cần Đước, cần Giuộc). Đêm Rằm tháng 11 năm Tân Dậu, tức 16/12/1861, Bùi Quang Diệu chỉ huy ba cánh quân tập kích đồn Tây Dương ở chợ Trường Bình, cần Giuộc. Nghĩa quân chiếm được đồn địch, đốt nhà dạy đạo và đâm bị thương đồn trưởng Dumont, chém chết một số  lính Mã tà, Ma ní. Giặc Pháp phải điều động tàu chiến nã đại bác từ sông cần Giuộc để chiếm lại đồn. Theo báo cáo của Tuần phủ Gia Định Đỗ Quang, phía nghĩa quân hi sinh 27 người. Cảm kích trước tinh thần quả cảm của những người “dân ấp dân lấn”, bằng ngòi bút và tâm hồn trung nghĩa, nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (lúc bấy giờ đang ở chùa Tôn Thạnh, cần Giuộc bốc thuốc, dạy dọc và sáng tác thơ văn yêu nước) đã viết bài Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc để Bùi Quang Diệu đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận này.
Trước hết, hình tượng người nghĩa sĩ hiện lên với vẻ đẹp của người nông dân Nam Bộ nghèo khó, “cui cút làm ăn” sống đời thầm lặng, cơ cực ở thôn ấp. Họ gắn chặt cuộc đời mình với mảnh đất quê hương, với ruộng vườn thân thuộc, họ quần quật quanh năm suốt tháng với công việc của nhà nông:
“Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó,
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm”.
Họ chỉ biêt ruộng trâu, chưa biết gì đến võ nghệ, vũ khí, chiến trận: 
“Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung;..
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó”.
Tuy hiền lành, chất phác nhưng họ rất căm hận, ghét cay ghét đắng kẻ thù xâm chiếm đất nước ta:
“Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”.
Những cụm từ như “ghét thói”, “muốn ăn gan”, “muốn cắn cổ” đã lột tả được sự căm giận cao độ của người nông dân đối với kẻ thù.
Càng căm thù giặc bao nhiêu người nông dân càng thể hiện lòng yêu nước cao độ bấy nhiêu. Họ không đội trời chung với bọn giặc ngang nhiên xâm chiếm ruộng vườn, đất nước của họ:
“Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;
Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lủ treo dè bán chó”.
Vẻ đẹp của hình tượng người nông dân sáng chói nhất là khi họ thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc, lòng yêu nước nồng nàn băng hành động cụ thể: chiến đấu dũng cảm chống quân thù. Đây là một trận chiên họàn toàn không cân sức. Trong khi kẻ thù là một đội quân tinh nhuệ, trang bị súng ống, tàu 
chiến hiện đại, họ lại chưa hề trải qua một trường lớp quân sự nào, trang bị lai quá thô sơ: chì có “một manh áo vải”, “một ngọn tầm vông”...:
“Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;
Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ”.
Tuy vậy tinh thần chiến đấu của họ thật vô cùng dũng cảm: hoàn toàn không nao núng trước sức mạnh của kẻ thù. Họ chiến đấu rất gan dạ, coi thường hiểm nguy, bất chấp những làn đạn của quân thù. Họ xông vào đồn giặc với tất cả sức mạnh của lòng yêu nước, căm thù giặc. Tinh thần chiến đấu của họ làm cho kẻ thù phải khiếp sợ:
“Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không.
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ”.
Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, những người nông dân này đã làm nên kì tích anh hùng:
“Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ”.
Vẻ đẹp của hình tượng người nông dân rất đẹp, rất hào hùng, rất bi tráng, rất đáng tự hào, xứng đáng lập nên “tượng đài” khi họ hi sinh anh dũng. Hơn 27 nghĩa sĩ đã nằm xuống trong trận chiến oanh liệt này. Cả quê hương vô cùng thương tiếc những người con yêu của Tổ quôc. Biết bao đau đớn của nhà thơ và của cả nhân dân chất chứa trong tiếng kêu “Ôi thôi thôi!” đầy uất nghẹn:
“Ôi thôi thôi!
Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ”.
Sự hi sinh của họ đã để lại tiếng thơm muôn đời. Đồng thời linh hồn của họ cũng giống như những anh hùng dân tộc xưa kia sẽ luôn theo phù hộ con cháu khi đất nước lâm nguy:
“Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;
Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”.
“Sống đánh giặc, thắc cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia”.
Bức tượng đài của Nguyễn Đình Chiểu chỉ có một tên gọi chung là “nghĩa sĩ Cần Giuộc”, còn mỗi người nghĩa sĩ trên đó để vô danh. Lịch sử không thể không ghi chép về họ. Họ đã sống những cuộc đời của quần chúng vô danh và chết cũng vô danh. Họ không hề tìm thấy điều gì cho riêng mình khi chiến đấu. Điều duy nhất họ gửi lại cho đời, điều mà Nguyễn Đình Chiểu nêu lên như một tiêu chí chung bên dưới bức tượng đài của họ, ấy là cái triết lí: “Chết vinh hơn sống nhục”.
“Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cùng vinh;
Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”.
Nguyễn Đinh Chiểu đã tạc nên một bức tượng đài của người nông dân - nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nhưng đây không phải là tượng đài của một người mà của nhiều người, của một tập thể anh hùng. Không có cái tập thể ấy, làm sao có được sự hoà hợp tuyệt đẹp, cái khí thế bừng bừng áp đảo hiểm nghèo, áp đảo cái chết, anh hùng như vậy!
Thời kì đó, Nguyễn Đình Chiểu là người sớm nhận thấy được khá rõ lòng yêu nước, căm thù giặc và tinh thần chiến đấu dũng cảm của người nông dân. Sau ông, trong một thời gian khá lâu, chưa mấy ai thấy được điều đó, kể cả Phan Bội Châu (trong Hải ngoại huyết thư, Phan Bội Châu có kêu gọi tất cả các thành phần xã hội phải đoàn kết để mưu việc chống Pháp, nhưng ông đã quên thành phần cơ bản là nông dân). Chúng ta cần ghi nhận và đánh giá cao tinh thần tiến bộ của Nguyễn Đình Chiểu khi đưa vào thơ văn một thành phần nòng cốt của xã hội mà lại ít ai để ý đến.
Trong bài thơ Hãy nhớ lấy lời tôi, nhà thơ Tố Hữu viết:
“Có những phút làm nên lịch sử Có cái chết hoá thành bất tử Có những lời hơn mọi bài ca”.
Những giờ phút những người nông dân đánh giặc Pháp ở Cần Giuộc đúng là những giờ phút làm nên lịch sử. Sự hi sinh của những người nông dân đã trở thành bất tử. Khắc hoạ được vẻ dẹp của hình tượng người nông dân, tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là một bài ca bất hủ mở đầu cho nền văn thơ yêu nước chống Pháp ở giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX vì: “Đây là lần đâu tiên người nông dân Việt Nam được đi vào văn học thành văn với tất cả vẻ đẹp và tầm vóc lịch sử có thực của mình”.
 
 
 
Bài làm tham khảm 2 hình tượng người nông dân trong bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc được hiện lên như thế nào, cùng đọc và cảm nhận qua bài phân tíchVăn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc này.
 
Dân tộc Việt Nam đã trải qua bốn nghìn năm với bao biến cố thăng trầm của lịch sử. Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, người nông dân cũng đứng lên chống giặc. Trong văn học, phải đến thế kỉ XIX khi Nguyễn Đình Chiểu - một nhà nho yêu nước dùng con mắng yêu thương và kính phục để viết nên “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” thì hình ảnh người nông dân mới thực sự xuất hiện. Đó là hình tượng đẹp, rất đỗi chân thực và đầy chất bi tráng, vừa hào hùng, vừa đau thương trong cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do của đấtnước.
 
Những người nông dân ấy, họ sinh ra đâu phải để làm chàng Gióng Phù Đổng, Lê Lợi, Quang Trung… Họ chỉ là những con người quanh năm khoác trên mình màu áo nâu của đất, bình dị và lam lũ. Nhưng họ xuất hiện trong khung cảnh bão táp của thời đại:
 
Hỡi ôi!
 
Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ
 
Họ đâu đã quen nghi tiếng súng. Âm thanh ấy đã phá tan cuộc sống bình lặng của họ. Một cuộc sống từ sáng đến tối bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, một cuộc sống chật vật với những lo toan nghèo khó. Cái nghèo đã làm họ thật nhỏ bé suốt ngày “cui cút làm ăn”.. Chỉ một câu văn, cụ Đồ Chiểu đã vẽ nên vòng đời luẩn quẩn không lối thoát của người dân Việt, người “dân ấp dân lân” Nam Bộ, bắt đầu với cui cút, vật lộn làm ăn để cuối cùng vẫn kết thúc trong nghèo khó. Đằng sau luỹ tre làng ấy, họ biết sao được những “cung ngựa”, “trường nhung”.. trong cái nhìn của họ chỉ có “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Đến việc cuốc, việc cày, bừa, khiên đã quá quen thuộc thì giờ tập khiên, tập súng.. thật lạ lẫm.
 
Những tưởng họ mãi cam chịu như thế. Nhưng không, khi quân xâm lược đã xâm chiếm đất nước, chúng đang giày xéo lên từng mảnh ruống, từng đám đất quê hương ruột thịt của họ. Giờ đây, trong những “lo toan” không chỉ có đói nghèo mà còn là những thấp thỏm, lo âu:
 
“Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa…”
 
Thấy “mùi tinh chiên vấy vá” không thể chống mắt đứng nhìn, không thể ngồi yên mà đợi. Triều đình đã “bỏ rơi” họ, nhưng làm sao ngăn được tình yêu đất nước nồng nàn ở họ. Bọn xâm lăng kia đã cướp đi những gì máu thịt của họ, chúng phá vỡ giấc bình yêu nơi thôn quê, làm sao không căm cho được. Nỗi uất hận đển tột cùng ấy đã biến những con người nhỏ bé tầm thường thành chàng Gióng khổng lồ trong cổ tích. Khi Tổ quốc lầm than, họ không ngần ngại chung vai góp sức. Lòng yêu nước đã biến thành lòng căm thù giặc đến sôi sục:
 
“Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan.
 
Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ
 
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắng đuổi hươu
 
Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó”
 
Lòng yêu Tổ quốc tha thiết xuất phát từ trái tim đã khiên họ trở nên đẹp đẽ, lấp lánh… Dòng máu Lạc Hồng cuộn chảy trong người cùng với cơn giận của lòng yêu nước mạnh hơn yếu hèn, mạnh hơn cái chết. Khát vọng đánh giặc, khát vọng chiến đấu, khát vọng bảo vệ mảnh đất quê hương đã thôi thúc họ, mặc việc “đợi tập rèn”, “ban võ nghệ”, “bày bố binh thư”, không màng tới trên mình chỉ có “một manh áo vải”. Các chàng Gióng của thế kỉ XIX đã đến, “đạp rào lướt tới”, coi giặc cũng như không.
 
Hỡi ôi, “một manh áo vải”, “một ngọn tầm vông”, chỉ có “lưỡi dao phay”, “rơm con cúi”, liệu có thể thắng được “tàu chiến tàu đồng”,” đạn nhỏ đạn to”. Đó là bi kịch của nghĩa sĩ Cần Giuộc hay chăng là tấn bi kịch của thời kì nghiệt ngã ấy. Họ là nông dân nhưng lại làm kinh ngạc cả chiến trường. Phải chăng cũng vì lẽ đó mà bản hùng ca đã cất lên trong tiếng nấc lòng. Có thể trận mạc đã vĩnh viễn cướp đi cuộc sống của họ, nhưng tinh thần xả thân vì nghĩa đã bù đắp cho sự thiếu hụt về lực lường, chênh lệch với kẻ thù
 
“Chi nhọc quan quản Gióng trống kì trống giục…. súng nổ”
 
Hình tượng của người nghĩa sĩ áo vải được khắc nổi trên cảnh u ám khói bom ấy: những âm thanh vang động (hè trước, ó sau&hellip những động tác quyết liệt (đốt, chém&hellip. Những người nghĩa sĩ áo vải đã trở thành đấng anh hùng của một thời kì đáng nhớ. Trong tư thế quật cường ấy , lấp lánh chân dung của những con người gánh trên vai vận mệnh của non sông. Họ biết rằng mình chỉ là vô danh trong dân tộc anh hùng nhưng điều cao cả nhất họ để lại là triết lí sống phù hợp đến muôn đời:
 
“Thà thác mà đặng câu định khái, về theo tổ phụ cũng vinh, hơn còn mà c chịu chữ đầu Tây ở với man di rất khổ”
 
Tinh thần ấy, ý đồng chívẫn chói lòa trong mỗi người dân Cần Giuộc. Sống để chịu nô lệ, tay sai của Tây thì thà một lần chiến đấu hết mình mà đem vinh quang cho dân tộc.
 
“Ôi thôi thôi!”
 
Một tiếng khóc đầy ai oán, tiếng khóc đến quặn lòng, tiếng khóc để tiễn biệt những người con Cần Giuộc mãi mãi nằm lại trên mảnh đất quê hương. Họ ngã xuống nới chiến trường khói lửa. Vẫn còn đó nghiệp nước chưa thành, thấp thoáng nơi đây bóng mẹ già với ngọn đèn le lói trong đêm
 
“Đau đơn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều! Vợ yếu chạy tìm chống, cơn bóng xế dật dờ trứơc ngõ”
 
Người tử sĩ đã về chốn thiên cổ để lại giữa trần gian mẹ già, vợ yếu, con thơ… Mai đây họ sẽ ra sao khi cái nghèo vẫn còn đeo đuổi, khi mà nợ nước trả chưa xong..
 
“Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo thương vì hai chữ thiên dân, cây hương nghĩa sĩ thắp đèn thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ”
 
Nguyễn Đình Chiểu đã bằng tấm lòng đồng cảm để nhìn thấy, nghe thấy và dựng nên một tượng đài hoành tráng mà mộc mạc, yêu thương. Xuyên suốt trong nền văn học nước nhà hình ảnh người nông dân đã được đề cập khá nhiều lần. Nhưng trước Đồ Chiều thì chưa một ai công khai vẽ lên và ngợi ca hình ảnh người anh hùng “chẳng qua là dân ấp dân lân mến nghĩa làm quân chiêu mộ”. Hơn thế nữa, việc thổi vào văn chương chất dân gian đã khiến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của cụ trở thành áng văn vừa hào hùng, bi tráng mà cũng rất gần gũi, giản dị.
 
Cụ Đồ Chiểu chỉ là nhà thơ mù - “người hát rong của nhân dân”. Nhưng hình ảnh người nông dân khởi nghĩa trong bài văn tế đã cho ta cái nhìn về cả một thời đại. Tự hào thay những con người nhỏ bé nhưng vẫn hiên ngang trước thế lực bạo tàn. Tự hào thay những người dân, người lính, nghĩa sĩ vô danh trùng trùng điệp điệp ngã xuống để bảo vệ sự toàn vẹn cho non sống. Họ là bức tượng đài bất tử, lưu mãi tới muôn đời.
Nguồn:
Van te nghia si can giuoc hinh tuong nguoi nong dan trong van te nghia si can giuoc