Thuật ngữ xem tướng qua khuôn mặt

Thứ sáu , 02/12/2016, 22:34 GMT+7
     
Tứ độc chỉ sống Trường Giang, sông Hoài, sông Hoàng Hà, sông Tế. Trong tướng học ví với các bộ vị: tai, mắt, miệng, mũi.

Ác tướng

 

Chỉ tướng về hình thể, ngũ quan, thần sắc xấu. Cụ thể là: đầu nhọn, trán hẹp, lông mày rậm, tóc hoe vàng, vành tai lộn ngược, lưỡi lộ, miệng rộng, môi mỏng, mắt có tia màu đỏ, mắt nhiều lòng trắng, thần thái hoảng hốt, sắc mặt xám xịt, chuẩn đầu nhọn, địa các xương xẩu. Người có tướng ác là người vô phúc vô thọ.

 

Anh mục

 

Chỉ đôi mắt có thần thái. Người có tướng anh muc: đôi mắt có thần, ánh nhìn sắc bén, thần thái lộ rõ ra bên ngoài.

 

Âm tựu

Cũng gọi là lệnh đường, nằm ở bên dưới mắt. Bộ vị này đầy đặn là tướng thông minh, đa phúc, đa thọ.

 

Âm tướng

Còn gọi là thanh tướng. ngoài ra còn có cách nói chỉ dư âm của giọng nói.

 

Ấn đường

Một trong mười ba bộ vị, nằm ở giữa hai lông mày, bên dười trung chính, bên trên sơn căn, cũng gọi là khuyết đình, nhị khấu cung, phúc đường, sao tử khí, cung quan lộc, quang đại bộ học đường.”Tướng ấn đường “ trong” Thần tướng toàn biên “ có viết: Ấn tướng là sao Tử Phù, nằm ở giữa hai lông mày, nên đầy đặn, ngay ngắn...giữa ấn đường có xương nhô lên là quý tướng. Ấn đường nhọn, hẹp là tướng nghèo hèn.

 

Bá thần nhĩ

Chỉ tướng tai cí đỉnh cao hơn lông mày. Người có tướng này ít bệnh tật, sống thọ, tài trí hơn người.

 

Bách hội

Chỉ bộ vị nằm ở giữa đỉnh đầu. Bách hội đầy đặn là người nhiều phúc lộc.

 

Ban duẩn bộ học đường

Một trong bát học đường, chỉ nếp nhăn trên trán. Nếp nhăn đều nhau, không rối loạn thì tốt.

 

Bàn tay phá tướng

Chỉ bàn tay có tướng xấu. Thông thường có đặc điểm như sau: bàn tay to, ngón tay ngắn: vô cớ bị người khác phỉ báng; xương xẩu, gân mềm, yếu: buồn nhiều vui ít; xương ở mu bàn tay nhô cao: vất vả bận rộn; người nhỏ mà bàn tay to: chỉ biết tiêu tiền; xương cứng thịt mỏng, vân tay chằng chịt, thô và u tối: chủ về cô độc, nghèo khổ, ngu muội.

 

Bào ý tử sắc (áo bào tía)

Chỉ dứa trẻ khi sinh ra có nhau thai màu tím

 

Báo tướng

Một trong tám tướng, chỉ ngoài hình yếu đuối. Người thanh mảnh nhưng không có thần là báo tướng. đây là tướng xấu. tướng mỏng thì nhanh hỏng; lụa mỏng thì dễ rách người mỏng là đoản mệnh.

 

Bảo thọ cung

Một trong ngũ quan, chỉ đôi mắt. Mắt to, dài thì tốt; nếu mắt dài đến hai bên mai tóc hoặc cong như sừng tê giác hay trăng lưỡi liềm, đầu lông mày rậm và nằm cân đối trên trán thì hình thành nên cung Bảo thọ.

 

Bát cực

Chỉ người có khuôn mặt cân đối. Lấy mũi làm trung tâm, nhìn ra tám góc của khuôn mặt đều bằng nhau. Các nhà Nhân tướng học cho rằng đây là tướng tốt.” Thần tướng thiết quan đao “ viết rằng:” tướng bát cực, lấy mũi làm trung tâm nhìn ra tám hướng, khuôn mặt chia thành tám phần bằng nhau thì tốt “.

 

Bát học đường

Học đường cao minh chỉ trán, căn cứ vào đó để xem về trí tuệ, đầu óc. Học đường cao quảng chỉ trán, căn cứ vào đó để xem trí tuệ, đầu óc và nghề nghiệp. Học đường quang đaih chỉ ấn đường, căn cứ vào đó để xem thọ cung. Học đường minh tú chỉ mắt, xem cung, vị, quyền lực cao hay thấp. Học đường thông minh chỉ tai, xem về trí thông minh danh tiếng. Học đường trung tín chỉ răng, xem về trung tín, hiếu kính và cách nói năng. Học đường quảng đức chỉ lưỡi, xem về đạo đức và phẩm hạnh. Học đường ban duẩn chỉ lông mày, xem về tuổi thọ.

 

Bát thái

Tức là tám màu sắc, chỉ lông mày phân thành tám màu. Các nhà nhân tướng học cho rằng đây là một loại dị tướng. vương Sung trong “luận lành – cốt tướng” có viết: “lông mày của vua Nghiêu có tám màu”.

 

Bát tướng

Chỉ tám lạo tướng mặt tring Nhân tướng học. “quan nhân bát tướng pháp” – quyền thứ năm trong “ Thần tướng toàn biên” có viết: Tướng thứ nhất là uy, là tôn nghiêm, đáng sợ. Tướng thứ hai là hậu, là chỉ tướng mạo đôn hậu. Tướng thứ ba là thanh, là người có khí chất thanh cao. Tướng thứ tư là cổ, là các xương đều nhô cao, lộ rõ. Cổ nhưng không thanh thì tương đối tục. Tướng thứ năm là cô, là tướng cô hàn; so vai rụt cổ, chân vẹo, đầu nghiêng, ngồi thì nghiêng ngả, đi đứng thì xiêu vẹo, giống như con hạc cô đơn bên bờ sông, giống như chim uyên ương dưới mưa. Tướng thứ sáu là báo, người có tướng báo có ngoại hình nhu nhược, thần tháo khiếp đảm, sắc có tướng ác ngoại hình hung dữ, giống như rắn, chuột, dáng giống chó sói, hoặc tính cách hung bạo, xương cốt bị tổn thương; đều chủ về hung bạo. Tướng thứ tám là  tục, tức là ngoại hình tối tăm, trông như chìm trong lớp bụi.

 

Bắc nhạc

Tức Hăng sơn, trong nhân tướng học chỉ cằm.

 

Băng giám

Tên một tác phẩm kinh điển về Nhân tướng học. Toàn tập phân thành bảy quyển: “Thần cốt chương đệ nhất”, “cương nhu chương đệ nhị”, “ dung mạo chương đệ tam”, “tình thái chương đệ tứ”, “mi tu chương đệ ngũ”, “thanh âm chương đệ lục”, “khí sắc chương đệ nhất”. Một thuyết khác cho rằng từ này là chỉ chiếc gương làm từ băng, có thể nhìn thấu mọi sự, dùng để ví với các nhà nhân tướng học.

 

Bất dương

Chỉ tướng mạo thường thường bậc trung.

 

Biền lặc

Chỉ xương sườn khít chặt, tạo thành một khối. Đây là loại tướng kỳ dị. Người có tướng này là người tái trí xuất chúng, vượt qua người bình thường.

 

Bền xỉ

Chỉ răng cửa liền nhau. Đây là dị tướng. Người có tướng này là người tài năng xuất chúng.

 

Bốn học đường

Mắt là cung học đường. mắt dài và tinh là tướng tốt. Mắt chủ về quan đức. Trân là lộc học đường; trán rộng và dài chủ là tướng làm quan và sống thọ. Hai chiếc răng cửa là nội học đường; răng nên ngay ngắn và dày, chủ về trung tín hiếu kính; răng thưa và nhỏ phần lớn chủ về bệnh hoang tưởng. phía trước lỗ tai là ngoại học đường; bộ phận này đầy đặn, sáng sủa và nhẵn nhụi là tướng tốt; ngược lại thì là người ngu si.

 

Bốn mắt

Chỉ người có bốn mắt. Đây là dị tướng

 

Bụng phệ

Chỉ bụng to, tròn. Là tướng phú quý.

 

Cao minh bộ học đường

Một trong tám học đường. Chỉ đầu. Đầu tròn hoặc có xương hình dạng đặc biệt là tướng tốt.

 

Cao quảng bộ học đường

Là một trong bát học đường. Chỉ trán. Trán rộng và nhẵn là tướng tốt.

 

Cao tuất ( rãnh nước)

Chỉ nhân trung. Nhân trung nên sâu và dài thì tốt, bằng phẳng thí xấu. Người có nhân trung sâu và dài có nhiều con cháu; người có nhân trung bằng phẳng, đầy đặn khắc con cháu.

 

Chí nhân vô sắc

Chí nhân chỉ thánh nhân, người có sự tu dưỡng đặt đến cảnh giới cao nhất, trí tuệ uyên thâm, không bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh. “chiếu đảm kinh” nói rằng: không chấn không động, yên tĩnh như đát, giống như cây khô là khí sắc của chí nhân.

 

Chiết trừ chi tướng

Chỉ hình tướng có cả tướng tốt và tường xấu. “ngọ quản chiếu xung cục” có viết: tuy trán rộng mà nhọn, tuy xương đẹp mà da thô, tuy tai dày mà giognj nói như ngựa hí, tuy  lưng đầy đặn mà tay như cáu dùi trống, tuy lưỡi hông nhưng môi nhọn, chu ra ngoài, tuy môi vuông vắn nhưng răng không đều, tuy sắc sáng sủa nhưng dáng đi xiêu vẹo, tuy eo dày nhưng đi như chạy, giọng nói nhẹ nhàng nhưng thần trí ngây ngô, mắt tuy tinh nhưng nhín láo liên, tuy dáng nằm yên tĩnh nhưng ăn uống nhồm nhoàm, đầu tuy dài nhưng lúc nào cũng so vai rụt cổ. Người có tướng này gọi là “chiết trừ”, tướng tốt và tướng xấu đan xen nhau. Hoặc giàu có và yểu mệnh, hoặc nghèo khổ mà sống thọ, hoặc quý mà nghèo, hoặc tiên quý hậu tiện, hoặc tiên phú hậu bần.

 

Chín ác tướng

Tướng thứ nhất là khuôn mặt xấu xí, gò má cao. Tướng thứ hai là yết hầu lộ rõ, răng lộ ra ngoài, khắc cung chồng. tướng thứ ba là tự nhiên sinh chuyện thị phi, đầu tóc rối bù. Tướng thứ tư là người không giỏi quản lý gia đình, hành động gian xảo. Tướng thứ năm là do nghèo khổ mà tinh thần suy sụp, hai lông mày rậm và giao nhau. Tướng thứ sau là đề phòng con trai gặp tai họa, cơ thể suy nhược, mắt trắng dã. Tướng thứ tám là người đa nghi, giọng nói to như giọng đàn ông. Tướng thứ chín là người mạnh mẽ, khó sai khiến, chi phối, có nốt ruồi đen có râu.

 

Chín thiện tướng

Trong tướng học, chín tướng tốt của người phụ nữ là: đầu tròn, trán bằng phẳng; xương nhỏ, da mịn, môi hồng, răng trắng; mắt dài, lông mày thanh tú; ngón tay dài, bàn tay dày, vân tay như lụa rối; giọng nói trong như nước; cười không để lộ răng; đi lại nhẹ nhàng, dáng ngồi ngay ngắn; thần sắc sáng sủa, da mịn.

 

Chuẩn đầu

Chỉ đầu mũi, là một trong mười ba bộ vị. Quan sát đầu mũi có thể phán đoán được thể chất, tâm tính và vận mệnh của con người. Thông thường, người có đầu mũi tròn, đầy đặn là người sung túc, đủ ăn, đủ mặc; người có chuẩn đầu nhọn và mỏng là người cô độc, nghèo túng, yếu ớt.

 

Chưởng Bát Quái ( Bát quái bàn tay)

Chỉ cách dùng Bát quái trong “Chu Dịch” để gọi tên tám bộ vị trên bàn tay và phán đoán vận mệnh của đời người. Tám bộ vị này đầy đặn và nhô cao là tướng tốt, lõm xuống và chỉ tay hỗn loạn là tướng xấu. Trong đó, coi Càn vị là thiên môn, tượng trưng cho người cha, địa chỉ thuộc Tuất Hợi, Ngũ hành thuộc Kim, Khảm vị là hải môn, chủ về của cải trong nhà, địa chỉ thuộc Tý Sửu, Ngũ hành thuộc Mộc; Cấn vị chủ về đất đai, mộ phần, địa chỉ thuộc Sửu Dần, Ngũ hành thuộc Thổ; Chấn bị chủ về thê thiếp, lập thân , địa chỉ thuộc Mão, Ngũ hành thuộc mộc; Tốn vị chủ về tiền tài và gia súc, địa chỉ thuộc Thìn Tỵ, Ngũ hành thuộc Mộc; Ly vị chủ về quan lộc, địa chỉ thuộc Ngọ, Ngũ hành thuộc HỎa; khôn vị chủ về phúc đức, người mẹ, địa chỉ thuộc Mùi Thân, Ngũ hành thuộc Thổ; Đoài vị chủ về tử tức, nô bộc, địa chỉ thuộc Dẫu, Ngũ hành thuộc Kim.

 

Cô Bố Tử Khanh

Tướng thuật gia thời Xuân Thu

 

Cô tướng

Một trong tám tướng

 

Cổ tướng

Loại tướng này có đặc điểm là hình dáng và thần sắc cổ quái, là một loại quý tướng. “Chiếu đảm kinh” nói rằng: hình dáng có bốn loại tướng... gọi là cổ, ngoại hình cổ quái; Khổng Tử có khuôn mặt hung dữ, đáng sợ, Mạnh Tử thân như cây khô.

 

Cốt tỵ (mũi xương)

Chỉ mũi xương xẩu, nhọn. Người có tướng này hay gặp vận xui, quan hệ với người thân không tốt, có khả năng sẽ phá tán gia sản.

 

Cốt pháp

Còn gọi là cốt cách. Chỉ đặc trưng về tướng xương của con người. Các nhà tướng thuật cho rằng cốt cách ảnh hưởng trực tiếp đến phúc, thọ, quý, tiện của con người.

 

Cốt tướng

Cũng gọi là cốt tướng. chỉ ngoại hình và cốt cách của con người. Các nhà tướng thuật cho rằng cốt tướng có liên hệ lớn tới tính cách và vận mệnh của con người. Còn có thuyết cho rằng từ này dùng để chỉ tướng xương, đối lập với bì tướng, nhục tướng (tướng da, tướng thịt). Các nhà tướng thuật cho rằng cốt (xương) là vua, nhục (thịt) là tôi; cốt cách và là hình tướng chiếm vị trí chủ đạo trong cơ thể con người.

 

Cung điền trạch

Một trong hai cung. Chỉ bộ phận nằm ở giữa lông mày và mắt. Cũng hay chủ về ruộng đất, sản nghiệp. Cung điền trạch sáng sủa là tướng tốt.

 

Cung giám sát

Một trong ngũ quan, chỉ đôi mắt. Mắt không lồi, tròng đen và tròng trắng rõ ràng, đồng tử đoan chính, ánh mắt sáng hoặc mắt nhỏ và dài một tấc là tướng tốt.

 

Cung học đường

Là một trong bốn học đương. Chỉ đôi mắt. “tứ học đường luận” trong “thần tướng toàn biên” có viết: mắt là cung học đường, nên dài và trong, chủ về quan chức.

 

Cung huynh đệ

Một trong mười hai cung, chỉ hai lông mày. Cung này chỉ số lượng anh em trong nhà và tình nghĩa giữa anh em.

 

Cung mệnh

Một trong mười hai cung, chỉ ấn đường, nằm ở giữa hai mắt, phía trên sơn căn. Ấn đường rộng, sáng sủa là tướng tốt, tượng trưng cho sự trường thọ.

 

Cung nam nữ

Là bộ vị ở dưới hai mắt, cũng gọi là “lệ đường”, “âm lộc”.

 

Cung nô bộc

Một trong mười hai cung, ở bên dưới hai khóe miệng.

 

Cung phúc đức

Là một trong mười hai cung. Chỉ thiên ách và địa khố. Cung phúc đức đầy đặn, sáng sủa thì tốt; u tối và lõm thì xấu.

 

Cung quan lộc

Là một trong mười hai cung, nằm ở phía trên ấn đường, giữa trán. Phần “thập nhị cung” trong “thần tướng toàn biên” có viết: cung quan lộc nằm ở trên trung chính... nếu sáng sủa là người tài giỏi, hiển đạt, phú quý.

 

Cung tài bạch

Còn gọi là tài tinh, chỉ mũi, là một trong mười hai cung. Tướng mũi có thể phản ánh tài vận con người.

 

Cung tật ách

Một trong mười hai cung. Chỉ sơn căn, nằm ở dưới ấn đường. Sơn căn đầy đặn là tướng phúc thọ, giàu có. Nếu sơn căn có sẹo hoặc lõm xuống thì sẽ mắc nhiều tật bệnh. Nếu sơn căn nghiêng, vẹo, khí sắc u tối thì sẽ phải chịu khổ suốt đời, tai họa liên miên.

 

Cung thái thính

Một bộ phận thuộc ngũ quan, chỉ đôi tai. Tai có sắc tươi sáng, đỉnh tai cao quá lông mày, vành tai rõ nét, phong môn rộng.

 

Cung thẩm biện

Một trong năm cung, chỉ mũi. Sống mũi cao thẳng; ấn đường bằng, rộng; sơn căn nối liền với ấn đường; niên thọ nhô cao; chuẩn đầu tròn; địa khố nhô lên, giống như hình là gan treo ngược, ngay ngắn, khí sắc tươi sáng là tướng tốt.

 

Cung thê thiếp

Một tring mười hai cung, cũng gọi là “gian môn”, “đuôi cá”. Nằm ở phía sau khóe mắt. Bộ vị này đại diện cho tình cảm vợ chồng.

 

Cung thiên di

Một trong mười hai cung, cũng gọi là thiên ách, ở phía trên đuôi long mày. Bộ phận này liên quan đến quan hệ giao tiếp.

 

Cung tử tôn

Chỉ bộ vị ở giữa hai mắt, quan sát bộ vị này có thể biết được tình hình của con cháu.

 

Cung tướng mạo

Một trong mười hai cung. Chỉ ngũ quan trên khuôn mặt.

 

Cung xuất nạp

Một bộ phận trong ngũ quan, tức phần miệng. trong “Đạt Ma ngũ quan thuyết” có viết: miệng rộng, môi đỏ, khóe miệng đầy đặn, mép cong, hình thành nên cung xuất nạp.

 

Cự kiên

Chỉ xương vai quá to

 

Cự tướng

Chỉ quý tướng.

 

Cửu châu đảo

Cửu châu đảo vốn chỉ Ký Châu, Dương Châu, Thanh Châu, Ung Châu, Dự Châu, Kinh Châu, Từ Châu, Lương Châu, Duyện Châu. Trong nhân tướng học dùng các thuật ngữ này chỉ môi dưới, bên trên ấn đường, má phải. “thần tướng thiết quan đao” viết rằng: những bộ phận trên là cửu châu đảo. Từ bên trái sang bên phải của trán không nếp nhăn thì không bị thất bại, hình như lá gan treo ngược là tốt; tướng bát cực, lấy mũi làm trung tâm, nhìn ra tám góc của khuôn mặt đều bằng nhay thì tốt.

 

Cửu cốt

Chỉ chín loại tướng xương của xương đầu có liên quan mật thiết đến vận mệnh của con người. Sách tướng thuật “ Nguyệt ba động trung ký” nói rằng: “cửu cốt bao gồm xương gò má, xương dịch mã, xương tướng quân, xương nhật giác, xướng nguyệt giác, xương long cung, xương phục tê, xương thần ngao, xương long giác”.

 

Cửu thành cho thuật

“Thành” chỉ đặc trưng về chín loại tinh thần, khí chất của con người là tinh thần, linh hồn, ngoại hình, khí sắc, cử chỉ, hành vi, ánh mắt, tài trí, đức hạnh. Thông thường, tinh thần minh mẫn là thành 1, linh hồn khẳng khái là thành 2, ngoại hình cân đối là thành 3, khí khắc sáng sủa là thành 4, cử chỉ khoan thai là thành 5, hành vi hợp nghĩa là thành 6, ánh mắ trong sáng, luôn nhìn thẳng là thành 7, tài trí linh hoạt là thành 8, đức hạnh mẫu mực là thành 9. Số lượng của các thành đại hiện cho lộc của số mạng ít hay nhiều, thường nói rằng: “tám thành, chín thành là quan đứng đầu; năm thành, hai thành là quan nhỏ; có thành mà không được làm quan thì cũng không phải dân đen; không thành, không cốt thì mãi mãi vất vả, gian truân.

 

Dâm nhãn

Chỉ ánh mắt dâm đãng. Người có tướng này là người gian giảo.

 

Diên cốt

Cũng gọi là “nga quynh”. Chỉ hai vai nhô cao như diều hâu. Đây là tướng cô hình.

 

Diện sơn

Chỉ mũi. Các nhà tướng thuật cho rằng mũi giống như ngọn núi của khuôn mặt, mắt giống như hồ nước trên khuôn mặt; do đó mũi không nên lõm, mắt không nên lồi.

 

Diện uyên

Chỉ đôi mắt. Các nhà tướng thuật cho rằng mắt là hồ nước của khuôn mặt, hồ nước không sâu thì không trong. Do đó, mắt không nên lồi ra ngoài.

 

Dưới mũi có khi đen

Chỉ bên dưới mũi có loại khí không may mắn. Tướng diện này xuất phát từ một điển cố. “Thành đo ký” ghi chép rằng: Viên Khách Sư cùng một thư sinh qua sông. Sau khi lên thuyền, ông nhìn sắc mặt của những người trên thuyền và nói với người thư sinh: “không nên vội vàng!” Thế là hai người quay trở lên bờ rồi ông mới nói rằng: “ta thấy dưới mũi những người trên thuyền đều có khí đen, không lâu sau sẽ gặp đại nạn. Ta đã biết vậy thì hà cớ gì phải đi cùng với họ? Một lúc sau, chiếc thuyền vẫn chưa rời bến; đột nhiên có một người đàn ông gãy một chân, thần thái đạo mạo, phi phạm, gánh một đời quang ghánh, cưỡi lừa đi lên thuyền. Viên Khách Sư nhìn thấy nguòi này lên thuyền bèn nói với người thư sinh: “chúng ta có thể lên thuyền rồi, có quý nhân trên thuyền, không cần lo lắng nữa”. Sau khi họ lên thuyền, thuyền liền rời bến. Khi thuyền ra đến giữa sông thì đột nhiên sóng cuộn dữ dội, gió thổi ào ào. Tuy tình thế vô cùng nguy hiểm nhưng cuối cùng con thuyền vẫn cập bến an toàn. Hỏi thăm thì được biết người đàn ông cưỡi lừa chính là Sâu Sư Đức. Về sau, Lâu Sư Đức làm chức gián quan ở Môn Hạ Sanh, trở thành một trong ba vị thừa tướng cai quản triều chính.

 

Dàm Doanh

Tức Thích Đàm Doanh, một tăng nhân ở thời Nam Bắc triều, tên hiệu là Mộng Nguyệt, là người Gia Hưng  (ngày này thuộc tỉnh Triết Giang), ẩn cư ở Lâm An; Hồng Mại Tăng từng thấy ông giảng về “Dịch”. Thích Đàm Doanh có hai quyển “Lạc Lục Tử phú chú” lưu truyền lại hậu thế.

 

Đậu phong nhỉ (tai đón gió)

Giống “phiến phong nhỉ”.

 

Đầu hươu mắt chuột

Chỉ đầu nhọn, xương lộ, mắt lõm, đồng tử tròn. Người có tướng này phần lớn là tâm thuật bất chính, hành vi hèn mạt.

 

Đấu hung (ngực đấu)

Chỉ lông mày. “chiếu đảm kinh” nói rằng: lông mày là hai đấu môn.

 

Đê phản nhĩ (tai thất lật)

Chỉ tai thấp hơn lông mày, vành tai lật ngược. “Nhĩ tướng – đê phản tướng” trong “thần tướng toàn biên” có viết” tai thấp, vành tai lộn ngược ra ngoài, thuở nhỏ sống đơn độc và hao tổn tiền tài.

 

Địa các

Chỉ hai má, là một trong mười bộ vị. “thần dị phú” có viết: gò má là địa các, xem về tình hình của những năm cuối đời. Chú: người có địa các đầy đặn là người giàu có; người có địa các nhọn, xương xẩu là người nghèo khổ. Tướng của con người không chỉ hạn chế ở đó. Địa các là thủy tinh, thuộc hạ đình; đối với người có tướng Kim, Thủy thì những nhận định trên càng chuẩn xác hơn.

 

Địa khố

Chỉ hai gò má. “thần dị phú” viết: địa khố trơn nhẵn, về già sẽ có cuộc sống tốt hơn. Chú thích: địa khố là hai gò má.

 

Địa phủ

Chỉ hai má và phần mặt bên dưới.

 

Điểu huệ

Tức mỏ của con chim. Người có miệng nhọn như mỏ chim là người nói nhiều.

 

Đỉnh giác

Cũng gọi là “đỉnh trĩ tam túc”. Chỉ trán giống như con tê giác, góc nhật, góc nhật nguyệt nổi gồ lên, tạo thành hình giống như cái đỉnh ba chân. Đây là tướng đại quý.

 

Đỉnh trĩ tam tú

Giống “đỉnh giác”.

 

Đoạt toán.

Là thuật ngữ của đạo giáo. Chỉ những người đã từng mắc tội lỗi thì đều khó tránh khỏi sự phán xét của thần linh; trời đất và quỷ thần sẽ trừ bớt tuổi thọ của con người. Một toán là ba ngày hoặc là một ngày. Còn có thuyết cho rằng một toán là mười hai năm.

 

Độc hỏa thanh

Chỉ giọng nói hung bạo, dữ tợn. Người có giọng nói này là người xấu.

 

Đồi nhan

Chỉ trán dô cao

 

Đôn hoàng di thư

Là cuốn sách tướng thuật cỏ xưa nhất còn tồn tại. “Tục tu tứ khố toàn thư đề yếu” có viết: đôn Hoàng còn sót lại ba quyển sách không đầy đủ của bộ này. Quyển thứ nhất có bài tựa, từ chương hai bàn về hình dáng cơ thể cho đến chương ba mươi bàn về tay và chân; quyển thú hai bắt đầu từ chương thứ mười tám bàn về đầu và trán cho đến chương ba bàn về ngũ quan cho đến chương ba m uoi lăm bàn về khí sắc của khuôn mặt. Căn cứ vào một câu cuối bài tựa như sau: các bộ phận trên cơ thể và khuôn mặt gồm ba muoi sáu tướng nên toàn bộ quyển sách này gồm ba muoi sáu chương. Tổng hợp ba quyển sách này, thấy toàn bộ phận còn thiếu chỉ còn thiếu chương một và chương ba mươi sáu, nên cuốn sách này gần như đầy đủ. Ví dụ như các thuyết về tướng lông mày, tướng mũi, tướng tai, tướng miệng, tướng trán, tướng vân tay, tướng chân và tay là một bộ phận quan trọng trong tướng học, trong đó, các chương bàn về tướng trán, tướng tay, tướng chân đưuọc phân tích tường tận. Đương thời, quyển sách này phổ biến, có nhiều phiên bản được lư truyền nhưng câu văn có phần khác biệt.

 

Đông nhạc

Một trong ngũ nhạc. Trong tướng học chỉ má bên trái.

 

Đồng miễn

Đồng là mắt nhìn thẳng, miễn là mắt nhìn nghiêng. Đồng miên chỉ tướng mắt không bình thường. đây là tướng hèn kém.

 

Đống lương

Chỉ cổ

 

Động tinh

Chỉ ánh mắt có thần và ánh nhìn sắc bén.

 

Đới can (đội khiên)

Chỉ trên đầu có phần thịt lồi lên giống như hình dấu nhân chạm trên cái khiên. Đây là dị tướng. can là cái khiên.

 

Đới kiên

Chỉ vai rất dày, nhô lên giống như cục bướu. Đây là dị tướng.

 

Đới mục

Mắt trợn ngược. Người có tướng mày này là người có những tư tưởng, chí hướng khác người.

 

Đức tại hình điền (đức đứng trước hình)

Chỉ việc tu dưỡng phẩm đức trọng về hình tướng. hình cũng giống như tài năng của con người, đức là công cụ của con người. Tài đức cần phải phối hợp với nhau, giống như ngọc quý cần phải mài giũa mới thành đồ vật hữu dụng.

 

Đường cử

Là nhà tướng thuật thời Chiến Quốc, người Khai Phong, Hà Nam.

 

Gày hình chữ nhất

Chỉ xương ở sau gáy tạo thành hình chữ nhất, trong tướng học, thông thường cho rằng người có gáy hình chữ nhất là người chính trực, thành tín. “thần tướng toàn biên” nói rằng: gáy hình chữ nhất chủ về thành tín, quý, tính cương.

 

Gian dâm thiên la

Một trong mười thiên la. “thần tướng toàn biên” nói rằng: mắt láo liên, nhìn ngang liếc dọc là gian dâm thiên la.

 

Gian môn

Bộ phận này là cung phu lê trong mười hai cung. Chỉ khóe mắt ngoài hay đuôi mắt.

 

Giang độc

Tức sông Trường Giang. Chỉ đôi tai. Trong “Tứ độc” – quyển thứ hai trong “ thần tướng toàn biên” có viết: tai là Giang độc, lỗ tai rộng và sâu là tướng tốt, xung quanh có vách bao bọc kín kẽ đó là người thông minh, gia thiệp không bị phá tán.

 

Giang thi sát

Một trong ngũ sát. Chỉ mắt vàng, môi khép không chặt.

 

Giao đầu

Giống “lông mày giao nhau”.

 

Giộng thư hùng

Giọng nói cao thấp, to, nhỏ không đều là tướng nghèo hèn.

 

Hà độc

Tức song Hoàng Hà. Trong tướng thuật chỉ đôi mắt. “tứ độc” trong “thần tướng toàn biên”: mắt là Hà độc, mắt sâu là tướng sống thọ, ngược lại là tướng đoản mệnh; mắt nhỏ và dài là quý tướng; mắt tròn, đục, không sáng là tướng yểu meenhjl mắt trên to dưới nhỏ là quý tướng.

 

Hà mục

Chỉ vành trên mắt và dưới dài và bằng phẳng.

 

Hạ đình

Phần bên dưới của tam đình, từ giữa sống mũi đến cằm. Căn cứ vào hạ đình có thể phán đoán được vận mệnh những năm cuối đời của con người.

 

Hạc cốt

Chỉ xương nhỏ, hoặc thân hình gầy, thanh mảnh,

 

Hạc hình

Là một loại tướng “người giống hình cầm thú”: cỏ dài, ngực ngắn, mình nhẹ, chân dài. Đây là tướng thanh cao, quý phái. Hình dáng cụ thể là: thương khố (thái dương) lõm, lông mi rủ xuống, cơ thể nhẹ nhàng, cổ nhỏ và dài, sải chân rộng, hạ đình dài, tính tình dịu dàng, có danh tiếng lẫy lừng.

 

Hải khẩu

Chỉ miệng vừa to vừa sâu. Đây là tướng tốt. Khổng Tử cũng có tướng miệng này.

 

Hàm én đầu hổ

Hàm én chỉ quai hàn rộng, đầu hổ chỉ đầu có hình dạng giống như đầu hổ, là quý tướng. danh tướng Ban Siêu thời Đông Hán từ nhỏ đã cso chí muốn lập công tại nơi xa. Các nhà tướng thuật nói ông có tướng “hàm én đầu hổ”, được phong chức “vạn hộ hầu”. sau này, ông đi sứ Tây Vực ba muoi năm, liên tục bình định cuộc chiến biến loạn của các quý tộc, làm chức Tây Vực đô hộ, được phong làm Đinh Viễn Hầu, xem “Hậu Hán thư – Ban Siêu truyện”. Sau này, tướng hàm én được coi là tướng được phng hầu. Do đó, tướng hàm én đầu hổ là quý tướng.

 

Hạng đào

Cũng gọi là thọ đào. Chỉ tướng: đường pháp lệnh ở hai bên cánh mũi kéo dài đến đường cong ở bên dưới cổ. Đây là tướng trường thọ

 

Hành thi (xác đi)

Một loại khí sắc xấu, chỉ trên trán và dưới mắt có sắc xanh, là điềm gặp tai họa bênh tật. “thần dị phú” có viết: sác xanh ở ngang mặt được gọi là “hành thi”. Một cách nói khác chỉ tướng ốm đau, bênh tật.

 

Hậu tướng

Chỉ tướng mạo đôn hậu.

 

Hình bất túc

Chỉ tướng có nhiều bộ vị lõm xuống, là tướng xấu. “luận hình bất túc” trong “Thần tướng toàn biên” có viết: hình bất túc, đỉnh đầu nhọn, vai nhỏ và hẹp, cánh tay ngắn, bàn tay mỏng, các ngón tay cách xa nhau, mũi hếch, vành tai lật ngược ra ngoài, eo thấp, ngực lép, lông mày bên cong bên thẳng, mắt bên cao bên thấp, mắt to mắt nhỏ, gò má bên cao bên thấp, đường chỉ tay bên có bên không, khi ngủ mắt không nhắm, giọng nói như giọng con gái, răng vàng và lộ ra ngoài, miệng nhọn và có mùi hôi, đầu hói, mắt sâu không nhìn thấy đồng tử, dáng đi nghiêng ngả, khí sắc nhợt nhạt, đầu nhỏ người to, tren ngắn dươi dài. Những tướng trên đầu gọi là hình thức bất túc. Người có tướng này là nhiều bệnh tật và đoản mệnh phúc mỏng và nghèo hèn.

 

Hình cục

Chỉ hình thái, cách cục của nhân tướng, là một bộ phận quan trọng trong nhân tướng, ảnh hưởng tới vận mệnh và phúc họa của con người.

 

Hình hữu dư

Chỉ hình tướng rất tốt. “luận hình hữu dư” trong “thần tướng toàn biên” có viết: hình hữu dư, đỉnh đầu tròn và dày, lưng và bụng đều dày, ngực phẳng và rộng, bụng tròn và phệ, dáng đi và thế ngồi ngay ngắn, ngũ nhạc nhô lên, tam đình cân đối, da trơn mịn, thịt đều đặn, tay dài, chân vuông, vóc dáng cao to. Những tướng trên đều là hình hữu dư. Người có tướng này không mắc bệnh tật, sống trường thọ, phú quý và được tôn kính.

 

Hình ngục thiên la

Cũng gọi là lao ngục thiên la, là một trong mười thiên la.

 

Hỏa âm

Chỉ một trong ngũ âm. Cũng gọi là “hỏa thanh”. “Luận ngũ âm” trong “thần tướng toàn biên” có viết: hỏa âm chua chát, phẫn nộ, nghe như tiếng lửa cháy.

 

Hỏa hình

Chỉ một trong năm hình tướng. “thần dị phú” viết rằng: nguwoif Hỏa hình to béo, bên trên nhọn như ngọn lửa; sắc đỏ, khí khô; hoặc nóng vội, khoa trương.

 

Hỏa sắc

Chỉ sắc mặt đỏ giống như lửa. Trong tướng học cho rằng màu của lửa tượng trưng cho người không thể sống trường thọ.

 

Hỏa thanh

Giống “hỏa âm”.

 

Hỏa tinh

Chỉ trán.

 

Hoài độc

Chỉ sống Hoài, một trong bốn con sông lớn ở Trung Quốc ( Tứ độc), trong tướng mặt chỉ miệng. Miệng rộng, vuông thì tốt.

 

Hoàng Phủ Ngọc

Một thuật sĩ tinh thông tướng thuật thời Bắc Triều.

 

Học đường

Chỉ phía trước lỗ tai, ngoài ra còn chỉ hai chiếc răng cửa.

 

Hổ cố ( ánh mắt hổ)

Chỉ ánh mắt dũng mãnh, uy phong.

 

Hổ cốt (xương hổ)

Chỉ phần xương từ khuỷu tay đến cổ tay. phần xương này ngắn và cứng chắc thì tốt

 

Hổ hình

Chỉ tướng đầu to, gò má rộng, mũi đầy đặn, miệng vuông, đi lại chậm rãi. Đây là loại tướng “người giống hình dạng cầm thú”.

 

Hổ mi (mày hổ)

Chỉ lông mày dày rậm. “đạt ma ngũ cung luận” có viết: người có lông mày dày, rậm phần lớn là trí tuệ.

 

Hổ nhĩ (tai hổ)

Chỉ bộ phận ở bên ngoài hai gò má.

 

Hổ thôn long (hổ nuốt rồng)

Có thuyết cho rằng từ này chỉ xương khuỷu tay, xương cổ tay dài hơn xương vau. Có một cách nói khác chỉ ngón tay dài hơn bàn tay.

 

Hổ vẫn

Chỉ tướng không có việc gì cũng nghiến răng tức giận và nét mặt nghiêm nghị. “thần dị phú” có viết: dáng đi như soi, nghiến răng như hổ, tâm địa thâm hiểm, lòng dạ khó đoán.

 

Hợp tướng chưởng

Chỉ tướng có bàn tay và hình dáng cơ thể tương xứng. trong “luận thủ - Hợp tướng cách” trong “ thần tướng toàn biên” có viết: người gầy thì bàn tay xương xẩu, người béo thì bàn tay đầy đặn, người nhỏ thì tay nhỏ, người to thì tay to, người thanh mảnh thì tay thanh mảnh, nguwoif thô thì tay thô, mặt to thì tay to, người thanh tú thì bàn tay mềm; bàn tay mềm mại, dày, hồng hào, thanh tú, nhỏ đều, chủ về phú quý, và thông minh.

 

Hung bạo sát

Một trong năm tướng ác sát. Chỉ tướng hung ác, thớ thịt ngang nổi lên khắp mặ, tính hung bạo, hành vi bất chính.

 

Hùng hình ( hình gấu)

Là một loại tướng “người có hình dạng như cầm thú”, chỉ trán, gò má, miệng đều rộng; chân tay, vai và ngực đều béo và dày, bước chân vững chắc, mạnh mẽ. người có chính tướng hùng hình sẽ làm quan to hoặc có thể đại phú đại quý.

 

Huyền cổ

Chỉ tướng trán nhô cao giống như một chiế trống treo ngang. Đây là quý tướng.

 

Huyền đản tỵ (mũi túi mật treo)

Chỉ mũi có tướng giống như hình túi mật treo, hình ảnh này bắt đầu ấn đường nhô cao và kéo xuống chuẩn đầu, chuẩn đầu tròn đẹp. đây là quý tướng. người có tướng mày này chắc chắn là người có thân phận tôn quý.

 

Huyền tê cốt

Chỉ tướng xương của phần chính giữa trán và phía trên ấn đường đầy đặn và nhô lên. Đây là tướng đại quý.

 

Hứa phụ

Một nữ tướng thuật gia thời Hán, ở quận Hà Nội thành Ôn. Là nhà nữ tướng học đầu tiên của trung quốc cổ đại.

 

Kê mục ( mắt gà)

Là một loại tướng “người có hình dạng giống cầm thú”, chỉ mắt tròn, nhỏ, màu vàng. Người “kê mục” tính tình nóng nảy và có ham muốn tình dục cao.

 

Kế Đô

Tức sao Kế ĐÔ, chỉ lông mày bên phải, là một trong nhị thập bát tú. Lông mày bên phải ngay ngắn là tướng tốt. Đây là tướng có vợ con.

 

Kết hầu

Là một trong “ngũ lộ”, chỉ yết hầu lồi lên, lộ rõ. Cuộc đời người này có tướng “kết hầu” phần lớn là phải ly biệt người thân, cốt nhục phân ly.

 

Khẩu đức

Đối lập với khẩu tặc. Chỉ người nói năng thành thật.

 

Khẩu tặc

Đối lập với khẩu đức. Chỉ người thích tham gia vòa những chuyện thị phi, phỉ báng người khác.

 

Khoái Thông tướng bối

Điển tích này xuất phát từ “Sử ký – Hoài Dương hầu liệt truyện”: Khoái Thông người nước Tề biết rằng quyền lực trong thiên hạ thuộc về Hàn Tín, muốn hiến mưu kế để làm thân với Hàn Tín:... Khoái Thông nói: “khuôn mặt của tướng quân chỉ có thể làm đến tước hầu, nhưng vẫn gặp nguy hiểm, không bình an; tướng lưng của tướng quân là tướng quý” . Khoái Thông có tài biện luận, ăn nói sắc sảo, từng làm mưu sĩ cho Hàn Tín, từng mượn cớ xem tướng để xúi giục Hàn Tín mưu phản.

 

Khóe mắt

Chỉ vị trí đuôi mắt. Người có nhiều nếp nhăn ở khóe mắt cả đời vất vả, bận rộn thậm chí khi về già cũng không được an nhàn.

 

Khuyết đình

Chỉ ấn đường, ấn đường đầy đặn, ngay ngắn, sáng sủa, nhẵn nhụi là tướng tốt.

 

Kiếm mi ( lông mày lưỡi kiếm)

Chỉ lông mày có hình giống cây kiếm. người có tướng mắt này là người quyền thế, có thể xây dựng sự nghiệp thành đạt, chắc chắn là một quý nhân. Ngoài ra còn chỉ xương lông mày có hình giống sống kiếm. đây là tướng dũng mãnh, hiếu sát.

 

Kiểm bạc cố tốc (má nhọn ngoái nhanh)

Chỉ gì má nhọn, xương xẩu, ánh mắt không uy nghiêm.

 

Kiên lý

Chỉ đường chỉ tay thẳng đứng trong lòng bàn tay.

 

Kiên mi

Chỉ lông mày mọc dựng đứng. người có tướng này tính nóng vội và hung dữ, thích đánh đấm và giết chóc; không được chết yên lành.

 

Kim âm

Cũng gọi là kim thanh, là một loại ngũ âm. “chiếu đảm kinh” nói rằng:

Kim thanh là âm thanh dài, thanh, vang; từ xa có thể nghe thấy rõ ràng là quý tướng, nếu không nghe rõ được là tướng xấu.

 

Kim đái sát

Chỉ lông mày rậm, thưa không rõ ràng, lông ở đầu lông mày mọc ngược hoặc nhọn, cao, để lộ thịt.

 

Kim hình

Một loại trong ngũ hình. “chiếu đảm kinh” nói rằng: kim hình vuông vắn, bằng phẳng, nhô cao; tướng này thể hiện ở gò má, dáng đi, thế ngồi, giọng nói.

 

Kim lũ

Chỉ đường pháp lệnh ở bên cạnh hai cánh mũi, còn gọi là kim lũ. Đường pháp lệnh rõ nét là tướng tốt; đường pháp lệnh đứt đoạn, không rõ nét hoặc kéo dài đên miệng là tướng không sống thọ.

 

Kim phúc

Chỉ môi trên. Môi trên mỏng, có thể phủ kín môi dưới là tướng tốt; nếu trên môi có nhiều nếp nhăn thì tượng trưng cho con cháu hiếu thảo.

 

Kim quỹ

Chỉ mi mắt dày, còn được gọi là “ngọa tằm” (con tằm nằm).

 

Kim tải

Chỉ môi dưới. Các nhà tướng học cho rằng môi dưới dày hơn môi trên để đỡ môi trên là tướng tốt.

 

Kim thanh

Cũng gọi là kim âm. Một loại trong ngũ âm. Kim thanh rõ ràng, trong trẻo là tướng tốt.

 

Kim thành cốt

Là phần xương do ấn đường nhô cao tạo thành.

 

Kim tinh

Một tròn ngũ tinh. Chỉ tai bên trái.

 

Kinh nhãn

Chỉ ánh mắt luôn hốt hoảng, sợ hãi. Người có tướng này dễ chết yểu.

 

Kỳ tử nhĩ (tai quân cờ)

Chỉ đôi tai tròn trịa, vành tai rõ nét. Người có đôi tai như vậy là người phú quý, làm nên sự nghiệp.

 

La Hầu

Một ngôi sao trong bát diệu, chỉ lông mày bên trái. Bộ vị này đầy đặn thì tốt, lõm thì xấu. nếu có vết lõm thì tướng phá sản, thất bại.

 

La võng thanh

Chỉ giọng nói lắp bắp, phát âm không đều. giọng nói này là tướng của người bần tiện.

 

Lạc lộ tử tam mệnh tiêu tức phú chú.

Sách bói thời cổ, do Từ Tử BÌnh thời Tống biên soạn. Từ Tử Bình chú thích rằng “lạc lọ tử tam mệnh tiêu tức phú chú” là sách nói về số mệnh và phúc lộc; căn cứ vào giờ, ngày, tháng, năm sinh để phán đoán cát hung, phúc họa. Lý Thục trong “Hàm Đan thư mục” có viết rằng cuốn sách này lấy ý nghĩa của “Lạc lộ như ngọc, lạc lộ như thạch”. Từ thời Tống đến nay, có bốn người nhà chú giải cuốn sách này là Vương Diên Quang, Lý Đồng, Thích Huyện Doanh và Từ Tử Bình. Khi biên tập “Tứ khố toàn thư”, căn cứ theo “Tống sử - nghệ văn chí” phân cuốn sách này thành quyển thượng và quyển hạ. Cuốn sách này có cá bản trong “Mặc hải kim hồ”, bản khắc của Thủ sơn các, “thử khố toàn thư”.

 

Lan đài

Chỉ cánh mũi bên trái, cũng gọi là “kim quỹ”, “tiên khố”. Lan đài và cánh mũi bên phải (đình úy) nở nang, nhẵn nhụi là tướng tốt. Người có hai cánh mũi nở nang, khí sắc tươi sáng là người giàu có, có nhiều tài sản tích trữ, là người học rộng, đa tài.

 

Lang cố (sói ngoái đầu)

Chỉ khi quay đầu lại phía sau, cổ xoay nhưng người vẫn bất động, giống như chó soi. Người có tướng này là người hung ác.

 

Lang hành

Chỉ tướng khi bước đi đầu cúi thấp và thường ngoái đầu nhìn lại phía sau. Người có tướng này là người tâm địa thâm độc, mưu mô xảo quyệt.

 

Lao ngục thiên la

Giống “hình ngục thiên la”.

 

Lệ đường

Còn gọi là cung nam nữ, chỉ mi mắt bên dưới. Lệ đường đầy đặn thì tốt, lõm sâu là xấu

 

Lịch huyết đầu

Chỉ sắc mặt nhợt nhạt. Đây là hung tướng.

 

Liên mi (lông mày nối liền)

Còn gọi là giao mi, giao đầu. chỉ lông mày ở hai bên mắt giao nhau. Đây là dị tướng.

 

Liễu Trang tướng pháp

Sách tướng thuật thời cổ. Đây là một trong những sách tướng thuật lưu truyền hiện nay.

 

Long chuẩn

Chỉ sống mũi cao.

 

Long cốt (xương rồng)

Chỉ xương từ vai đến khuỷu tay. người có xương này to, dài là tốt, quan lộ rộng mở, có thể làm chức vị cao.

 

Long dĩnh

Chỉ trán rất cao.

 

Long đình

Chỉ thiên đình nhô lên. Đây là quý tướng.

 

Long hành hổ bộ (rồng đi hổ bước)

“Long hành” thân bất động, “hổ hành bộ” bước chân rộng, mạnh mẽ. Người “long hành hổ bộ” có khí thế hùng cường, là người tài năng.

 

Long hổ khí

Chỉ người toát ra khí thế của bậc đế vương.

 

Long mi (mày rồng)

Chỉ xương lông mày nhô cao.

 

Long mục phương cảnh (mắt rồng cổ phượng)

Là một loại tướng kỳ lạ, rất quý của phụ nữ.

 

Long mục phượng đồng (mắt rồng người phượng)

Đây là tướng mắt rất cao quý. Tương truyền, vị quan nổi tiếng thời Đường là Phòng Huyền Linh có tướng mắt này.

 

Long nhan

Xương lông mày nhô lên theo hình tròn. Đây là tướng đế vương. Thông thường dung mạo của hoàng đế gọi là long nhan.

 

Long nhiêm (râu rồng)

Râu giống như râu rồng. đây là tướng cao quý.

 

Long phượng chi tư (tư chất rồng phượng)

Lời nói tâng bốc hình dạng, tướng mạo cảu đế vương.

 

Long tê

Chỉ xương ở trán có vẻ hơi nhô lên, nối liền với sống mũi. Đây là quý tướng.

 

Long tinh (con người rồng)

Còn gọi là long đồng. chỉ mắt như viên ngọc, tướng mắt kỳ dị, ánh mắt lạnh lùng, nhìn như thiêu cháy người khác. Đây là tướng cực quý.

 

Long tướng

Chỉ thân hình to cao; xương chắc khỏe; mắt tròn, lồi; mũi và trán đều có xương nhô lên.

 

Lỗ mũi lộ ra ngoài

Chỉ lỗ mũi hếch, lỗ mũi lộ ra ngoài. Đây là tướng nghèo khổ.

 

Lộ táo tỵ (mũi hở lộ)

Chỉ lỗ mũi to, lộ ra ngoài. Người có tướn này khi bước vào tuổi trung niên gặp nhiều tai họa, dễ bị phá sản. Táo, tỉnh táo chỉ lỗ mũi.

 

Lộ tích tỵ (mũi lộ xương)

Cũng gọi là “cốt tỵ”. Chỉ tướng mũi: sống mũi nhọn, xương xẩu. người có tướng này cô độc, nghèo khổ, vô phúc, vô thọ.

 

Lộc học đường

Một trong bốn học đường, chỉ trán. Trán nhẵn nhụi, sáng sủa là tướng thông minh.

 

Lông mày chữ nhất

Chỉ lông mày tạo thành hình chữ nhất. Trong tướng học cho rằng người có lông mày hình chữ nhất đa phúc đa thọ, phúc lộc vẹn toàn. “thần tướng toàn diện” nói rằng: sợi lông mày thanh tú, đầu và đuôi đều như cái lọng, tướng phú quý và sống thọ.

 

Lông mày dài quá mắt

Chỉ lông mày mọc dài hơn mắt. Người có tướng này phần lớn là người tài hoa.

 

Lông mày giao nhau

Chỉ lông mày ở hai bên giao nhau, còn gọi là “giao đầu”. đây là tướng vô thọ vô lộc.

 

Lông mày chữ bát

Lông mày hình chữ bát, tức hai lông mày chúc xuống dưới, trong nhân tướng học coi đây là tướng vô phúc, “nguyệt ba động trung ký” nói lông mày hình chữ bát, nam thì chết nơi đất khách, nữ thì bất chính.

 

Lục ác

Chỉ sáu loại tướng mắt, môi, yết hầu, đầu, thân mình, dáng đi xấu. quyển thứ năm trong “Thần tướng toàn biên” là “Tướng lục ác” có viết: hai mươi tám ác tướng: một là mắt không lồi không lõm, nhìn thẳng, chủ về tính bất nhân, mưu tính việc hại người; hai là môi không che kín răng, chủ về tính tình bất hòa, khó kết giao; ba là yết hầu nhô cao, chủ về hại đến vợ con, phần lớn gây ra tai họa; bốn là đầu nhỏ, chủ về nghèo khổ và chêt yểu; năm là tam đình không bằng nhau, chủ về nghèo hèn; sáu là đi như chạy, chủ về bôn ba, nghèo khổ.

 

Lục cực

Chỉ trán, mắt, mũi, miệng, tai đều nhỏ, tướng không tốt. Quyển thứ hai trong “thần tướng toàn diện” là “luận nam nữ ngũ quan” có viết: đầu nhỏ là cực 1, không có được sức mạnh của trời; trán nhỏ là cực 2, không được cha mẹ giúp đỡ; mắt nhỏ là cực 3, không hiểu biết rộng; mũi nhỏ là cực 4, làm việc liên tục không nghỉ ngơi; miệng nhỏ là cực 5, không được ăn no mặc ấm; tai nhỏ là cực 6, khó đoán trước được số mệnh.

 

Lục diệu

Tức sáu vì sao Thái Dương, Nguyệt Bột, La Hầu, Kế Đô, Tử Khí. Tỏng tướng học lần lượt tương ứng với các bộ vị như mắt trái, mắt phải, sơn căn, lông mày bên trái, lông mày bên phải, ấn đường.

 

Lục đại

Chỉ tướng cảu sáu bộ vị đầu, mắt, mũi, miệng, tai, bụng tuy to mà không phải là tướng tốt. Quyển thứ năm trong “thần tướng toàn biên” là “Tướng lục đại” có viết: đầu tuy to, nhưng trán không có góc cạnh; mắt tuy to, nhưng láo liên; mũi tuy to nhưng sống mũi yếu; miệng tuy to, nhưng nói hoi nhanh; tai hơi to, nhưng không có vành tai; bụng tuy to, nhưng cao, gần trên ngực.

 

Lục phủ

Thiên Đình và hai xương nhật nguyệt là thiên phủ; hai gò má là nhân phủ; địa các là địa phủ. Nói một cách cụ thể, vị trí của hai thiên phủ là hai xương gò má, đồng thời bao gồm vùng xung quanh thiên ách và vùng trán ở gần đường chân tóc, hai nhân phủ nằm ở hai gò má và bao gồm vùng từ mệnh môn đến hổ nhĩ. Vị trí của địa phủ là ở hai xương má và bao gồm vùng xung quanh địa phủ.

 

Lục tiện

Chỉ sáu loại tướng xấu của tran, ngực, lưng, giọng nói, mũi, ánh mắt. Lục tiện: góc của trán lõm xuống, thiên trung mỏng, trễ xuống dưới là tiện 1; lưng và ngực đều mỏng là tiện 2; giọng nói trầm, vang như giọng đàn ông là tiện 3; mắt liếc ngang la ftieenj 4; mũi thấp là tiện 5; mắt vô hồn là tiện 6.

 

Lục tiểu quý

Chỉ tướng của các bộ vị như mắt, miệng, tai, mũi, bụng, eo, thân mình tuy nhỏ nhưng là quý tướng. quyển thứ năm trong “Thần tướng toàn biên” là “Tướng lục tiểu quý” có viết: trán nhỏ và bằng phẳng; mắt nhỏ, tinh nhanh; mũi nhỏ, sống mũi bằng; tia nhỏ, hướng đến thái dương; bụng nhỏ, xệ xuống dưới; miệng nhỏ, môi hồng; eo nhỏ, tròn trịa; thân mình nhỏ, tam đình đều nhau; đây đều là tướng giàu có, trường thọ.

 

Lục tức

Chỉ tướng xấu của sáu bộ vị: lông mày, trán, mắt, mũi, miệng, tai. Quyển thứ ba trong “Thần tướng toàn biên” là “Nhị không bát tước cách”: lông mày không có lông, trán không có góc cạnh, mắt vô thần, mũi tẹt, miệng không có khóe miệng, tai không có vành tai.

 

Lưng gù

Phần lưng nhô cao giống như cái bướu. Đây được coi là quý tướng.

 

Ma Y đạo giả

Ma Y đọa giả sống ở thời kỳ cuối Ngũ Đại, đầu Tống, chưa rõ nơi sống và năm sinh, năm mất, là một đạo sĩ ẩn cư. Thời xưa truyền rằng ong đã dạy :chính dịch tâm pháp” cho Trần Đoàn (872 – 989, nhà nghiên cứu về đạo giáo nổi tiếng đầu thời kỳ cuối Ngũ Đại, đầu Tống). chương thứ hai mươi tư trong “Phật Tổ thống ký” của Thích Chí Bàn thời Tống viết rằng: thời Ngũ Đại có người mặc quần áo bằng gai kiểu đạo sĩ, thấu tỏ cái đạo của “dịch”, bắt đầu khám phá bí mật của “Hà Đồ” và dạy cho Hy Di (Trần Đoàn), Hy Di bắt đầu truyền lại cho hậu thế”.

 

Mắt bệnh

Chỉ ánh mắt mệt mỏi, vô hồn, không có sức sống, giống như người bị bệnh lâu ngày. Đây là tướng xấu, người có tướng này không sống thọ.

 

Mắt chuột

Chỉ mắt nhỏ, đồng tử đen, thường lén nhìn trộm người khác. Người có tướng này phần lớn là người gian xảo, bất nhân, có tướng trộm cướp.

 

Mắt đe (dương mục)

Chỉ tướng mắt đen, hơi vàng, đầu cúi, mắt nhìn xuống, không có thần thái.

 

Mắt đan phượng

Chỉ mắt phượng.

 

Mắt đào hoa

Chỉ tướng mắt dâm tà.

 

Mắt học sĩ

Đây là tướng mắt chủ về quý. Tương truyền Tô Đông Pha có tướng mắt này. Các nhà tướng thuật nói rằng Tô Đông Pha: có đôi mắt học sĩ và nửa cái đầu tòng quân.

 

Mắt hổ

Chỉ vành mắt to, mắt có màu vàng và ánh mắt uy nghiêm. “thần dị phú” có viết: mứt giống mắt hổ, tính nghiêm khắc, không thể đắc tội.

 

Mắt lợn

Chỉ ánh mắt u tối, mắt nhìn láo liên, mí mắt dày. Người có tướng này là người tâm địa độc ác, dâm đãng.

 

Mắt một tấc

Chỉ tướng mắt. Cuốn sách “tướng hại” của thời nhà Đường được lư giữ ở cao nguyên Đôn Hoàng trích dẫn Thiên Ngư: mặt dài hai thước không bằng mắt dài một tấc. Người ta thường nói đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Xem tướng mặt, điều quan trọng nhất là xem đôi mắt, từ đó có thể đoán biết tính cách của con người.

 

Mắt ngựa

Mắt giống như mắt ong, giọng nói giống như tiếng sói. Hình dung tướng mạo và giọng nói của kẻ xấu. người này tính tình hung tàn.

 

Mắt phượng (phượng nhãn)

Cũng gọi là “mắt đan phượng”. chỉ đôi mắt thon dài, có thần thái. Đây là quý tướng.

 

Mắt sói

Chỉ đôi mắt màu vàng, ánh mắt cuồng dại. Người có đôi mắt này là người tham lam, mưu mô xảo trá.

 

Mắt trâu (ngưu mục)

Tức mắt của con trâu. “Mạt sử - Tiêu Chú truyện” có viết: chú có thể xem tướng từ Thiểm Tây về, nhà vua hỏi chú... về Vương An Trạch, Chú trả lời: An Thạnh mắt trâu, ngoái nhìn như hổ, ánh nhìn như tên bắn, làm việc giỏi giang, có thể đảm đương đại sự trong thiên hả.

 

Mắt Bát quáy

Chỉ phương pháp kết hợp với Ngũ Hành, căn cứ theo khí sắc của bộ vị để phán đoán vận mệnh và cát hung của con người. Mặt Bát quái là chỉ cách dùng các tên gọi của Bát quái để ví với tám bộ vị trên, dưới, phải, trái và bốn góc cảu khuôn mặt. Càn vị ở bên dưới má phải; Khảm vị ở bên dưới môi dưới; Cấn vị ở bên dưới má trái; Chấn vị ở phía dưới tai phải; Tốn vị ở bên cạnh góc phải của trán; khon vị ở bên cạnh góc trái của trán; đoài vị ở phía trước tai trái.

 

Mặt chữ điền

Chỉ khuôn mặt có hình giống chữ điền, là quý tướng.

 

Mặt một thước

Chỉ tướng mặt của con người.

 

Mặt như đeo mặt nạ

Là một loại tướng. mặt nạ là một loại công cụ được nguwoif thời cổ dùng để tránh tà.

 

Mặt sắt

Chỉ thần khí của khuôn mặt đen như sắt.

 

Mâu tử

Tức nhãn cầu. người thời đại cổ cho rằng nhãn cầu có thể phẩn ánh tâm lý của con người; các nhà tướng thuật rất chú trọng việc quan sát nhãn thần của con người, tức là quan sát tướng mắt để phán đoán tính cách của con người.

 

Mệnh môn

Còn gọi là phong môn, chỉ lỗ tai. Mệnh môn nên rộng, không nên hẹp. mệnh môn nhỏ đến mức khó đút vừa một ngón tay là tướng ngu đần, dốt nát.

 

Mi gian nhất thước

Chỉ khoảng cách giữa hai lông mày dài một thước (0.3 m). tương truyền, Ngũ Tử Tư thời Xuân Thu  có tướng này.

 

Mi hào

Chỉ sợi lông dài mọc trên lông mày. Mi hào là tướng trường thọ.

 

Mi lăng

Chỉ bộ vị hơi nhô lên ở giữa lông mày. Mi tăng tượng trưng cho ý chí.

 

Mi sát

Chỉ lông mày không cân đối, hoặc có nốt ruồi, vết sẹo, không sáng sủa, hoặc quá thô, quá rậm. đây đều là những tướng xấu.

 

Mi thọ

Chỉ trong lông mày có trường hào (sợi lông mọc dài hơn bình thướng, dài hơn những sợi xung quanh). Mi hào tượng trưng cho sự trường thọ.

 

Mi vĩ

Chỉ đuôi lông mày không ngay ngắn. Người có tướng này khó tích lũy tiền của được.

 

Mi vũ

ở giữa lông mày và trán. Mi vũ to, rộng là người rộng rãi, khoáng đạt.

 

Miện đao

Còn gọi là mắt “phán đao”, “vọng đao”, chỉ tướng đầu cuối thấp, mắt ngước nhìn lên trên. Đây là tướng xấu.

 

Miệng chuột

Chỉ miệng nhọn như miệng chuột. Người có tướng này là người hay đố kỵ, hay hạ nhục, phỉ báng người khác.

 

Miệng chữ tứ

Chỉ khóe miệng rõ nét, tạo thành hình chữ tứ. Đây là tướng phú quý.

 

Miệng hổ

Chỉ miệng to, có thể nhét vừa cả bàn tay. người có tướng miệng này là người phú quý.

 

Miệng anh đào

Chỉ tướng miệng nhỏ, môi đỏ của người con gái.

 

Miệng cong như cung tên.

Chỉ môi trên và môi dưới có độ cong lớn, giống như hình cung tên đang căng. Người có tướng này là người phú quý, có phúc.

 

Miệng dê (dương khẩu)

Chỉ môi mỏng, miệng nhọn, không có ria mép. Dương khẩu trong “thâng tướng toàn biên”: dương khẩu miệng nhịn, không có ria mép, hai moi mỏng, bị người khác ghét.

 

Miệng khép không chặt

Hai môi mỏng không che kín hàm răng. Tướng này dễ gặp chuyện thị phu khẩu thietj, bị người khác phỉ báng.

 

Miệng nhọn như mỏ chim

Chỉ cổ dài, môi nhọn như mỏ chim. “sử ký – Việt thế gia” có viết: Việt vương có cổ dài và miệng nhọn như mỏ chim, có thể cùng chung hoạn nạn, không thẻ cùng hưởng an vui.

 

Miệng rộng

Miệng rộng nhưng răng không lộ ra ngoài là tướng phú quý.

 

Miệng thổi lửa

Chỉ miệng có hình giống như là đang thổi lửa, tức hai môi chu ra ngoài. Đây là tướng cô độc.

 

Miệng o nhét vừa cả bàn tay

Người há miệng có thể nhét vừa cả bàn tay là quý tướng.

 

Minh tú bộ học đường

Một trong tám học đường. chỉ đôi mắt.

 

Mõm lợn

Chỉ miệng dài như mõm lợn. người có tướng này bản tính tham lam.

 

Mộc âm

Một trong ngũ âm, cũng gọi là Mộc thanh.

 

Mộc hình

Một loại tướng trong ngũ hình tướng. “thần dị phú chú” có viết: mộc hình, nên dài. Tính chất của mộc là thẳng, khí sắc thanh tú, đó mới là đặc trưng của mộc hình.

 

Mộc thanh

Gống mộc âm. “hứa phụ thính thanh biên” có viết: mộc thanh cao, vang xa.

 

Mộc tinh

Một trong ngũ tinh. Chỉ tai bên phải.

 

Mũi chim ưng

Chỉ tướng mũi với sống mũi nhọn, chuẩn đầu khoằm xuống dưới như hình móc câu. Người có tướng này là người gian giảo, lòng dạ độc ác.

 

Mũi củ tỏi

Chỉ sống mũi bằng và nhỏ, chuẩn đầu to và thô. Người có tướng mũi này là người đứng đắn, không nặng về tình nghĩa và những năm tuổi già sống sung túc.

 

Mũi sư tử

Chỉ mũi có hình dạng: sống mũi thấp và bằng, chuẩn đầu to. Người có mũi sư tử là người phú quý, có tiền tài.

 

Mười ba bộ vị

Tướng học chia bộ mặt con người từ đường chân tóc đến cằm thành ba bộ phận tương ứng với thiên, địa, nhân; căn cứ vào đó để phán đoán trạng thái thiền ngu, thiện ác, mệnh lộc của con người. Khuôn mặt tính từ trên xuống dưới lần lượt là các bộ phận như thiên trung, thiên đình, tư không, trung chính, ấn đường, sơn các, niên thượng, thọ thượng, chuẩn đầu, nhân trung, thủy tinh, thừa tương, địa các.

 

Mười hai cung (thập nhị cung)

Là thuật ngữ trong thiên văn, các nhà tướng thuật dùng thuật ngữ này để chỉ mười hai bộ vị, phân chua những nội dung chủ yếu của đời người và những nhân tố chủ yếu liên quan đến vận mệnh của con người thành mười hai hạng mục, lần lượt tương ứng với mười hai bộ vị và căn cứ vào đó để phán đoán cát hung, phúc họa cũng như tiền đồ, vận thế của đời người. Mười hai cung là: cung mệnh và thân, cung tài bạch, cung huynh đệ, cung điền trạch, cung nam nữ, cung nô bộc, cung thê thiếp, cung tất ách, cung thiên di, cung quan lộc, cung phúc đức, cung tướng mạo.

 

Mười thiên la

Trong tướng học, mười thiên la chỉ mười loại thần tình, khí sắc xấu: tử khí thiên la, tang khốc thiên la, ưu trì thiên la, tật bệnh thiên la, tửu thực thiên la, gian dâm thiên la, phá bại thiên la, hình khâm thiên la, quỷ yếm thiên la, thoái bại thiên la.

 

Nga kiên

Cũng gọi là diên kiên, chỉ tướng vai nhô cao. Đây là điềm báo nghèo hèn, cô độc

 

Ngạo cốt

Chỉ người cao ngạo, không chịu khuất phục, kiên định khí tiết của mình.

 

Ngọa tàm (tằm nằm)

Chỉ cơ thịt ở lệ đường bên dưới mắt đầy đặn, trông giống như hình con tằm đang nằm.

 

Ngoại học đường

Một trong bốn học đường. chỉ bộ vị ở trước mắt lỗ tai, chủ về thông minh tài trí. Bộ vị này đầy đặn, sáng sủa, nhẵn nhụi là tướng tốt.

 

Ngoại phù

Tức ngoại thnahf, chỉ ngoại hình của con người.

 

Ngọc chẩm

Chỉ xương gáy ở phía sau đầu. xương này phát triển là tướng phúc thọ.

 

Ngọc đường cốt

Cũng gọi là ngọc giai cốt, chỉ phần xương ở sau tai nhô lên.

 

Ngọc giai cốt

Tức xương ngọc đường.

 

Ngọc lương cốt

Chỉ phần xương nằm ngang do hai xương gò má nối liền với hai tai tạo thành. Người có phần xương này phát triển là người sống thọ.

 

Ngọc quản chiếu thần cục

Sách tướng thời cổ đại. Trước đây được cho là của Tống Tề Khưu thời Nam Đường biên soạn. cuốn sách này viết về phương pháp xem nhân tướng, cho rằng ngoại hình và tướng mạo của con người có thể nhìn thấy được thì gọi là dương cục; lộc mệnh của con người bắt nguồn từ ngoại hinhg nhưng không thể nhìn thấy được thì gọi là âm cục. “thủy lạc đại điển” và “tứ khố toàn thư” đều thu thập cuốn sách này.

 

Ngũ ác sát

Năm tướng ác sát là: trong mắt có tia máu đỏ, ánh nhìn hung dữ, là tướng đấu vong sát (chết do đánh nhau); lông mày ngắn và nhọn, mắt ướt, là tướng tốt bạo sát (chết đột tử); mũi gãy, chuẩn đầu vẹo, cổ vẹo. Mắt không nhìn thẳng là tướng tự điếu sát (tự treo cổ chết); ánh mắt hoảng hốt, khi ngủ mắt không nhắm chặt, miệng không khép, là tướng giang thi sát (chết nơi đất khách); thớ thịt ngang nổi lên khắp mặt, tính tình hung bạo, hành vi bất chính, là tướng hung bạo sát (chết một cách thê thảm). người nào chỉ cần có một trong năm lo0aij tướng trên thì sẽ không được chết an lành.

 

Ngũ âm

Chỉ Kim âm, Mộc âm, Thủy âm, Hỏa âm, Thổ âm. Trương Hành Giản trong “nhân luân đại thống phú” viết rằng: “người có Ngũ hành tướng thì giọng nói cũng phối hợp với hình tượng của Ngũ hnahf. Thổ ân trầm và day, Mộc âm cao và vang xa, Hỏa âm chua chát, Kim âm êm dịu, Thủy âm trong trẻo và tròn trịa.

 

Ngũ âm lục thuộc

Người thời xưa dùng phương pháp nạp thanh để bói toán. Cát Hồng trong “bão phát tử - Tiên dược biên” có viết: “Ngọc sách ký” và “Khai minh kinh” đều căn cứ vào ngũ âm lục thuộc để đoán biết vận mệnh một năm của con người.

 

Ngũ cấp

Ngũ cấp là thần khí, lời nói, cách đi đứng, cách ăn uống, cảm xúc đều vội vàng. “kim thư bảo ấn” nói rằng: xét về hình cần có năm thứ rộng rãi, phóng khoáng. Đó là tài trí học thức, hành vi cử chỉ, cách ăn uống, cách nói năng và cảm xúc. Trong tướng học cho rằng nếu cả năm phương diện trên đều hào phóng, có phong độ thì người này chắc chắn có tiền đồ đẹp.

 

Ngũ đại

Chỉ đầu, mắt, bụng, tai, miệng đều rất to. “thái thanh thần giám” (trước đây được cho là của Vương Phác thời Hậu Chu biên soạn) quyển thứ sáu có viết: hình dạng của ngũ hình: thứ nhất là đầu to, thứ hai là mắt to, thứ ba là bụng to, thứ tư là tai to, thứ năm là miệng to. Năm bộ vị trên không bị lõm thì chủ về phú quý. Hoặc là đầu to ma fkhoong có góc cạnh, mắt to mà u tối, bụng to mà phệ, tai to mà không có vành tai. Miệng to mà môi mỏng thì chủ về nghèo hèn.

 

Ngũ đoạn

Chỉ cơ thể, đầu, tay, bụng, chân đều ngắn. loại tướng này tượng trưng cho người trung lưu. “thần tướng toàn biên” nói rằng: tướng ngũ đoản: thứ nhất là đầu ngắn, thứ hai là mặt ngắn, thứ ba là thân ngắn, thứ tư là tay ngắn, thứ năm là chân ngắn. năm bộ vị nói trên đều ngắn và xương nhỏ, da thịt mịn màng, ấn đường rộng, sáng sủa, ngũ nhạc ngay ngắn là tướng làm quan.

 

Ngũ đức phối hợp với ngũ hành

Ngũ đức chỉ nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Trong tướng học kết hợp ngũ đức và Ngũ hành. Người hình Mộc nên nhiều nhân, người hình Kim nên nhiều nghĩa, người hình Hỏa nên nhiều lễ, người hình Thủy nên nhiều trí, người hình Thổ nên nhiều tín.

 

Ngũ hành hình tướng

Tướng học dùng nguyên lý của Ngũ hành để phân biệt hình tướng và khí chất của con người. Căn cứ vào đặc trưng ngoại hình, hình tướng của con người được phân chia thnahf năm hình tướng chính là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ va hai mươi hợp hình tướng là Kim Mộc, Kim Thủy, Kim Hỏa, Kim Thổ, Mộc Kim, Mộc Thủy, Mộc Hỏa, Mộc Thổ, Thủy Kim, Thủy Mộc, Thủy Hỏa, Thủy Thổ, Hỏa Kim, Hỏa Mộc. Hỏa Thổ, Hỏa Thổ, Thổ Kim, Thổ Hỏa, Thỏ Thủy, Thổ Thủy. “Chiếu đảm kinh” viết răng: “hình tướng chính Kim vuông vắn, ngay ngắn, khiết bạch, nhô cao; tướng này thể hiện ở tướng cằm, cách đi đứng, nói năng. Hình tướng chính Mộc dài, thanh tú; tướng này thê rhieenj ở tướng lông mày, gò má, và tay chân. Hình tướng chính Thổ rộng lớn, mỡ dày, thịt ít; tướng này thể hiện ở tương lại, bụng, eo, và cách đi đứng. hình tướng chính Hỏa trên nhọn, dưới to, không gầy, không béo; tướng này thể hiện ở tướng tính cách điềm tĩnh hay nóng vội. hình tướng chính Thủy tròn, dày, đầy đặn, rộng lớn; tướng này thể hiện ở tướng lưng, chuẩn đầu, bụng, gò má.

 

Ngũ hợp

Chỉ thiên địa tương hợp, thiên cung tương hợp, thiên tâm tương hợp, thiên cơ tương hợp và thiên luân tương hợp. ngũ hợp chỉ năm biểu hiện của con người như phẩm chất, sự tu dưỡng, cử chỉ, thái độ, lời nói.

 

Ngũ lộ

Chỉ năm loại tướng lộ: mắt lồi, mũi hếch, vành tai lộn ngược ra ngoài, môi công yết hầu lộ rõ. “chiếu đảm kinh” nói rằng: ngũ lộ tức là lông mày, mắt, tai, mũi, răng lộ ra ngoài; đây là tướng thanh cao, cô độc, khác thường; nhưng nếu thần thái lộ thì là tướng chết yểu.

 

Ngũ mạn

Mạn tức chậm rãi, không vội vàng, bao gồm năm phương diện thần, khí, tính tình, ăn uống. người có tướng này thì thành công muộn và có thể sống thọ.

 

Ngũ nhạc

Chỉ hai gò má, trán, má, cằm và mũi. Trương Hành Giản trong “Nhân luân địa thống phú” viết rằng: Ngũ nhạc, trán là nam nhạc Hành Sơn, mũi là trung nhạc Tung Sơn, gò má là bắc nhạc Hằng Sơn, gò má trái là đông nhạc thái sơn, gò má phải là tây nhạc Hoa Sơn. Ngũ nhạc cần phải đầy đặn, có thể cao lớn.

 

Ngũ nhạc triều quy

Giống “ngũ nhạc triều thiên”. Trần Bác trong “thần dị tướng” viết rằng: ngũ nhạc triều quy, đời này tiền tài tự vượng.

 

Ngũ nhạc triều thiên

Cũng gọi là “ngũ nhạc triều quy”, chỉ hai gò má, mũi, trán, cằm và mũi đầy đặn, đều hướng đến thiên đình. Đây là tướng phú quý. “kinh thần phú” có viết: ngũ nhạc triều thiên, tiền bạc đủ dùng cả đời.

 

Ngũ quan

Chỉ mắt, tia, miệng, mũi, lông mày (hoặc nhân trung). Trương Hành Giản nói trong “nhân luận đại thống phú” rằng: mắt là cơ quan giám sát, tai là cơ quan thẩm thính, mũi là cơ quan đánh hơi, miệng là cơ quan xuất nạp, nhân trung là cơ quan bảo thọ.

 

Ngũ tàng

Chỉ ánh nhín, thính lực, khí sắc, suy nghĩ, giọng nói đều không lộ ra ngoài. Đây lad tướng thanh cao, quý phái, có tầm nhìn xa trông rộng. “chiếu đảm kinh” nói rằng: Ngũ tạng là gì? Ánh nhìn giấu đi sự tinh tường, nghe không bộc lộ thái độ, giọng nói không thể hiện cảm xúc, sắc mặt không thể hiện sự biểu cảm, không bộc lộ suy nghĩ. Toàn bộ năm đặc điểm trên là tướng của người thanh cao, quý phái, có tầm nhin xa.

 

Ngũ thanh

Giống ngũ âm

 

Ngũ thể

Chỉ tứ chi và đầu.

 

Ngũ tiểu

Chỉ đầu, mắt, bụng, tai, miệng đều rất nhỏ. “tướng ngũ tiểu” trong “thần tướng toàn biên” có biết: hình dạng của tướng ngũ tiểu là thứ nhất là đầu nhỏ, thứ hai là mắt nhỏ, thứ ba là bụng nhỏ, thứ tư là tai nhỏ, thứ năm là miệng nhỏ. Nếu cả năm bộ vị trên đều nhỏ và không bị lõm thì là quý tướng. nếu ba, bốn bộ vị nhỏ còn một, hai bộ vị còn lại to thì là tướng nghèo hèn.

 

ngũ tinh

chỉ sao Kim, sao Mộc, sao Thủy, sao Hỏa, sao Thổ. Trên tướng mựt chỉ hai tai, miệng, mũi, trán; trong đó sao Kim và sao Mộc chỉ tai.

 

Ngũ tướng

Chỉ đầu, mặt, thân mình, tay, chân đều dài. “Tướng ngũ trường” trong “thần tướng toàn biên” viết rằng: thứ nhất là đầu dài, thứ hai là mặt dài, thứ ba là thân dài, thứ tư là tay dài, thứ năm là chân dài. Cả năm đặc trưng trên mà đầy đặn, thanh tú thì là tướng tốt.

 

Ngũ ứng

Chỉ thiên đại tương ứng, thiên cung tương ứng, thiên tâm tương ứng, thiên cơ tương ứng và thiên luân tương ứng.

 

Nguyệt hào

Cũng gọi là “nhị tước hào”, “mi hào”, “mi thọ”. Chỉ trên lông mày có sợi lông mọc dài hơn hẳn những sợi lông khác. Đó là tướng trường thọ.

 

Nguyệt ba động trung ký

Thư tịch kinh điển của tướng thuật thời cổ đại.

 

Nguyệt Bột

Tức sao Nguyệt Bột, chỉ sơn căn.

 

Nguyệt giác

Chỉ xương lông mày bên phải nhô lên, kéo dài đến đường chân tóc, đối xứng với xương nhật giác ở trán bên trái. Đây là quý tướng.

 

Người có hình cầm thú ( nhân tượng cầm thú hình)

Nhân tượng cầm thú hính là một loại tướng thuật đơn giản, thực dụng, chuẩn xác, không thể coi nhẹ. Nhân tượng cầm thú hình gần như là loại tướng thuật đơn giản nhất, rất dễ hiểu, tức so sánh con người với một loại cầm thú, tính cách và vận mệnh cũng tương tự. Thông thường, phương pháp này phân thành ba loại: thứ nhất là giống hoàn toàn ví dụ như hình phượng, hình vịt, hình hổ, hình lợn,...; thứ hai là tương đông về bộ phận, ví dụ như mũi diều hâu, cổ én, chương đầu, mắt chuột,...; ba là giống về hành động, ví dụ như nga hành (đi như ngỗng), áp bộ (đi như vịt), lang thốn (ăn như sói), hổ thị (nhìn như hổ)...

 

Người xem tướng giỏi không chỉ xem tướng mặt và cơ thể

Xuất xứ từ “phong giám”, ý nghĩa là phẩm chất đạo đức và trid tuệ của con người ẩn chứa trong nội tâm và thể hiện qua hành động, bởi vậy, không thể chỉ căn cứ vào tướng mặt để phán doán tính cách và phẩm hạnh của một người, còn cần phải xem xét hành động, lời nói, thần thái, khí săc của người đó. “Ma Y tướng pháp” viết rằng: chua quan sát tướng mạo, đã phải cét đến nội tâm trước.

 

Ngưỡng cung khẩu

Cũng gọi là ngưỡng nguyệt khẩu, chỉ hai khóe miệng cong lên trên như mặt trăng. Người có tướng này tuổi già được sống sung túc, giàu có.

 

Ngưỡng nguyệt khẩu

Giống ngưỡng cung khẩu

 

Nhâm Thân

Cách gọi gộp chung tướng tam Nhâm và tam Thân.

 

Nhân bất khả mạo tướng

Có nghĩa nhìn người không thể chỉ nhìn tướng mạo bên ngoài, còn cần phải xét đến hánh bị cử chỉ, cách nói năng.

 

Nhân luận đại thống phú

Tác phẩm kinh điển  của tướng thuật thời cổ đại, do Trương Hành đời Kim biên soạn. cuốn sách này nói về tướng pháp, ngôn từ rất đơn giản dễ hiểu, cô đọng, chỉ có khoảng hai, ba ngàn chữ, bao gồm hầu hết các kiến thức của tướng thuật, phân thành các chương, mục rõ ràng.

 

Nhân phủ

Thiên phủ (còn gọi là thượng phủ), hai địa phủ (còn gọi là trung phủ) là tên gọi khác của trán (hoặc được coi là hai góc ở hai bên trán), hai xương gò má và hai xương má trong tướng thuật. Nhân phủ chỉ hai xương gò má, chủ về trung vận, nên ngay ngắn và gần vào đường tóc mai, không nên thô, lộ.

 

Nhân trung

Là đường lõm xuống ở dưới mũi, phía trên chính trung. Trong tướng học còn gọi là “thủy câu huyệt”, “câu tuất”, “tử đình”, “thọ đường”; là một trong mười ba bộ vị. Các nhà tướng thuật cho rwangf nhân trung thông với lỗ mũi, hình dạng của nó giống như hồ nước; cho nên nhân trung nên rộng và sâu; nhân trung chủ về trường thọ, có con cháu. Nhân trung nông, nhỏ là tướng xấu. trong “Nguyệt ba động trung ký” viết rằng: “nhân trung còn gọi là thọ đường, hay tử đình. Bên dưới thượng cát nhỏ hẹp thể hiện nguòi này lúc đầu vinh, nhưng vè già không có vợ conl bên trên hạ các nhỏ hẹp thể hiện người này lúc trẻ không có con, về già mới có con”.

 

Nhất thiên chi tướng ( tướng thiên lệch)

Chỉ người quá gầy hoặc quá béo.

 

Nhật giác

Chỉ phần giữa xương trán nhô cao, cũng chỉ xương lông mày bên trái nhô cao đến đường chân tóc, đối xứng với xương nguyệt giác ở bên phải. đây là quý tướng. “nguyệt ba động trung ký” có viết: cửu cốt (chín loại tướng xương) đều là quý tướng, thứ tư là xương nhật giác, phần xương hơi nhô lên ở phía trên lông mày bên trái gọi là xương nhật giác. Lý Thiện Chú dẫn “tướng thư” của Chu KIện Bình có viết: (Người) trên trán có phục tê sát vào đường chân tóc, bên trái có nhật giác, bên phải có nguyệt giác là người làm chủ thiên hạ.

 

Nhật biểu

Cách gọi tôn kính của các nhà tướng thuật đối với dung mạo, ngoại hình hoàng đế. Người thời cổ đại coi mặt trời là chí tôn trong vũ tự nhiên, trong xã hội loài người thì hoàng đế là người cao nhất. Xuất phát từ tư tưởng trời và người tương hỗ, kết hợp trời và người, dùng trời và mặt trời để tượng trưng cho dung mạo, thần thái của hoàng đế.

 

Nhật giác yển nguyệt

Các nhà tướng thuật cổ đại coi đây là tướng cực quý. Yển nguyệt, chỉ góc trán giống như hình mặt trăng khuyết.

Xuất xứ từ :Tấn – Viên Hoành “Hậu Hán kỷ - Thuận đế kỷ thượng” có viết: “(Lương hậu) được tuyển vào hậu cung, thầy tướng Mao Thông nhìn thấy, kinh ngạc nói rằng: người này có tướng nhật giác yển nguyệt, là tướng cực quý, hạ thần chưa từng gặp qua người có tướng như vậy. Thế là phong cho người này làm quý phi”.

 

Nhật nguyệt tướng

Chỉ trên bả vai co nốt ruồi màu đỏ. Đây là tướng cực quý.

 

Nhĩ tức

Còn gọi là quý tức. Chỉ khi đi ngủ, khí thoát ra từ lỗ tai. Đây là điềm báo phú quý và sống thọ.

 

Nhị nghi

“nghi” chỉ pháp quy, căn cứ. Trong tướng học, đầu tròn, nhô cao giống như trời thì có quy tắc của trời; chân vuông, đầy đặn thì có nguyên tắc của đất. “chiếu đảm kinh” nói: đầu tròn giống như trời thì giàu có; chân vuông giống như đất thì có hậu.

 

Nhìn mặt bắt hình dong

Chỉ việc dựa vào ngoại hinhg để đoán tính cách, phẩm chất của con người là không đúng, mà còn cần phải căn cứ vào phẩm chất, đạo đức nội tại của con người. “hàn Phi Tử - Hiển học” có viết: “Khổng Tử nói: dựa vào dung mạo để đánh giá con người là điều thiếu sót; dựa vào lời nói để đánh giá con người là điều sai lầm.

 

Nhìn thấy gò má từ phía sau tai

Chỉ khuôn mặt rất to,nên có thể nhìn thấy gì má từ phía sau tai.

 

Ngưu giác bát phương

Chỉ tám loại xương có tướng quý ở phần trán. Trương Hành GIản trong “nhân luân đại thống phú” có viết: người có tướng ngưu giác bát phương, trên trán có tám loại xương là phục tê, xương nhật nguyệt, xương biên địa, xương phúc đường, xương long giác, xương hổ giác, xương ngưu giác, xương ấn đường. người có tám loại xương trên thì chắc chắn sẽ làm quan trong triều đình, thông đạt tám phương.

 

Niên thọ

Chỉ niên thượng và thọ thượng

 

Niên thượng

Một trong mười ba bộ vị. Nằm dưới sơn căn, trên thọ thượng. bộ vị này có thể phản ánh tình hình sức khỏe của con người.

 

Nội đức

Chỉ sựu tu dưỡng cũng như phẩm chất đạo đức của con người, đối lập với ngoại hình.

 

Nội học đường

Một trong bốn học đường, chỉ hai cái răng cửa. “thần tướng toàn biên” luận về bốn học đường: hai chiếc răng cửa là nội học đường, nên ngay ngắn và dày sát nhau, chỉ về trun gtins, hiếu kinhsl nếu răng thưa và nhỏ thì phần lớn chủ về thói kiêu căng, ngạo mạn.

 

Nốt ruồi đen

Các nhà tướng thuật rất coi trọng vị trí và hình dạng của nốt ruồi; căn cứ vào nốt ruồi để phán đoán về tình hình sang, hèn, học, phúc của con người. trong các nốt ruồi thì tướng pháp của các nốt ruồi trên mặt là quan trọng nhất. Các nốt ruồi ở vị trí khác nhau trên khuôn mặt đàn ông và phụ nữ chủ về các điềm cát, hung khác nhau.

 

Phá bại thiên la

Một trong mười thiên la, chỉ sắc mặt đỏ rực như lửa. Đây la khí sắc xấu.

 

Phá bại trư

Chỉ một loại tướng lẳng lơ của phụ nữ, tức là tướng: mắt tròn, sáng, chưa nói đã cười, dáng đi lả lướt.

 

Phản cốt

Chỉ tướng xương của kẻ phản bội.

 

Phản khí

Người có tướng xương hoặc khí thế của kẻ phản bội.

 

Phản trụ

Chỉ đỉnh đầu thấp, xung quanh thì cao

 

Phản tướng

Tướng của kẻ phản bội.

 

Pháp lệnh

Tức đường pháp lệnh. Đường pháp lệnh bắt đầu từ hai bên cánh mũi và kéo dài đến khóe miệng. đường pháp lệnh dài, sâu tượng trưng cho người trung hậu và trường thọ, nhưng nếu kéo dài đến môi thì là tướng ác.

 

Phiến phong nhỉ ( tai quạt gió)

Cũng gọi là đâu phong nhĩ. Chỉ vành tai vểnh sang ngang và nghiêng về phía trước. Người có tướng này dễ bị phá sản.

 

Phong hạ

Chỉ gò má đầy đặn. là phúc tướng

 

Phong môn

Còn gọi là mệnh môn, chỉ lỗ tai. Người có phong môn rộng là người thông minh túc trí, học rộng biết nhiều.

 

Phong thổ khắc ứng

Chỉ những ảnh hưởng đến tính cách và tướng mặt của con người của các nhân tố phong tục tập quán, hoàn cảnh địa lý. Trong tướng học cho rằng, hoàn cảnh địa lý và phong tục tập quán có ảnh hưởng lớn đến tình tình và tướng mặt của con người. người sống trong cùng một vùng thì tướng mặt sẽ hình thành một phong cách giống nhau. Khi xem tướng cho người khác cần phải lưu ý những vấn đề này.

 

Phối quân đầu

Là một loại tướng đầu không tốt. Đây là tướng bôn ba vất vả.

 

Phú tướng

Các nhà tướng thuật coi phú tướng là tướng giàu có, đủ ăn, đủ mặc. Tướng thuật gia cho rằng giàu hay nghèo thường được phản ánh qua ngoại hình và hành động. cụ thể là: thân hình đầy đặn, thần thái bình tĩnh; khí thanh, giọng nói sang sảng; đầu to, trán dô; mắt sáng, khoảng cách giữa hai lông mày rộng; tai dày, môi đỏ; mũi thẳng, mặt vuông; lưng dày eo thẳng; da mịn, bụng to; răng to, dáng đi bệ về đều là quý tướng.

 

Phụ cốt

Chỉ xương mày nhô cao và kéo dài đến đường chân tóc. Người có phụ cốt nhô cao là người đa tài, quan lộ rộng mở, khi còn trẻ đã phát đạt.

 

Phụ giác cốt

Cũng gọi là “phụ cốt”, “long giác cốt”, “nguyệt giác cốt”. Chỉ xương mày nhô cao và kéo dài đến đường chân tóc. Người có phụ cốt nhô cao ngay từ lúc trẻ đã phát đạt, giàu có.

 

Phúc đường

Chỉ ấn đường. người có ấn đường rộng, nhẵn nhụi thì may mắn.

 

Phúc thủy đức khí

Phúc và đức giống như nước và đồ chứa. Người có tướng mạo tốt tuy là có phúc nhưng cũng cần phải có đức hạnh cao thượng thì mới tốt. Có thể thấy rằng, khi các nhà tướng thuật xem tướng cũng là vận dụng quan điểm biện chứng phát triển.

 

Phúc thuyền khẩu (miệng thuyền úp)

Chỉ tướng miệng có khóe miệng trễ xuống, môi thâm. Đây là tướng nghèo hèn.

 

Phục tê

Cũng gọi là “nặc tê”, chỉ phần xương bắt đầu tính từ ấn đường đến thiên đình chủ về quý hiển. trong “Nhân luân đại thống phú” của Trương Hành Giản có viết: Nếu có xương phục tê, nhất định làm nguyên thần”.

 

Phục tê tháp não

Chỉ xương phục tê ở trên sống mũi nhô cao đến tận đường chân tóc. Đây là quý tướng.

 

Phục tê tỵ

Chỉ sống mũi cao, trán vuông vắn. là điềm báo hiển quý.

 

Phượng tướng

Chỉ tướng:thân mình nhỏ, mắt dài, trán cao, thanh tú.

 

Quá di

“Di” chỉ gò má. Khuôn mặt và má to, béo đến mức nhìn từ đằng sau lưng cũng thấy hai gò má.

 

Quái tướng

Chỉ người có hình tướng quái dị nhưng lại là quý tướng. “Chiếu đảm kinh” có viết: HÌnh có bốn tướng, một là quái, ngoại hình quái dị, giống như Lô KHởi (?-785) – một đại quan triều nhf Đường có mặt xanh như quỷ

 

Quang đại bộ học đường

Là một trong tám học đường. tức ấn đường.

 

Quảng đức bộ học đường

Là một trong bốn học đường. chỉ lưỡi. lưỡi dài và dày là tướng tốt; ngắn và mỏng thì không tốt. Người có lưỡi to, dày là phú quý; người có lưỡi đỏ vừa sống thọ vừa phú quý.

 

Quy hình

Là một loại tướng “người có hình dạng giống cầm thú”, chỉ tướng đầu nhọn nhô cao, mũi cao, lông mày rậm, mắt to hình vuông, có quầng, lưng dày, người béo. Người “quy hình” yêu thích thiên nhiên, phúc thọ khang ninh.

 

Quy nhãn

Chỉ mắt giống mắt rùa. Đây là quý tướng.

 

Quy tức

Chỉ hít thở đều đặn, khi ngủ không ngáy. Người “quy tưc” sống lâu. Ngoài ra “quy tức” còn chỉ hơi thở từ tai. Đây cũng là tướng trường thọ.

 

Quý tiện định cách ngũ hành tướng thư

Một cuốn sách tướng thuật thời cổ. Bản cũn đề tên Viên Thiên Cương thời Đường biên soạn, nhưng đó chỉ là mạo dnah. Quyển sách này nói về sự biến chuyển của các bộ vị trong mười hai tháng, và viết rằng sinh vào giờ nào thì tương ứng với đầu của Hoàng Đé, sinh vào giờ nào thì tương ứng với tay Hoang Đế, sinh vòa giờ nào thì tương ứng với chân Hoàng Đế, cuốn sách này viết rất kỳ quái, khó hiểu. lạo có một dòng viết về tướng của một người: người sinh vào tháng giêng, thụ thai cào tháng tư, đã phóng sanh một con bò vào chùa nên kiếp này được sống sung túc... điều này càng hoang đường hơn nữa. Được thu thập vào trong “Vĩnh Lạc đại điển”.

 

Quý tướng

Là tướng cao quý. Trán có xương nhô cao, mắt sáng là quý tướng. ngoài ra, quý tướng còn có những đặc điểm sau: xương nhỏ, da mịn; lưng dày, mình dài; mũi cao, tai cao; trán cao, gáy đầy đặn; tâm trạng điềm tĩnh và giọng nói trong trẻo; đứng, ngồi vũng vàng...

 

Quỷ sắc

Chỉ khí sắc trên mặt xanh xao, u tói. Đây là tướng xấu, tượng trưng cho người nghèo khổ, sống trong buồn chán.

 

Quỷ táo (quỷ ám)

Chỉ tướng: gân cốt yếu, rệu rã. Đặc trưng cụ thể của tướng này là: gân không giữ được xương, mạch không giữ được thịt, dáng đứng xiêu vẹo, dường như không có tay chân.

 

Quỷ u

Chỉ tướng khuôn mặt như cây khô, tinh thần rệu rac, khí sắc u tối.

 

Quỷ yến thiên la

Một trong mười thiên la. Chỉ của chỉ, hành động tùy tiện, thiếu suy nghĩ, là thần thái không tốt.

 

Quyền phát

Quyền phát chỉ tóc uốn cong hoặc cuộn sống. đây là tướng xấu.

 

Quyền tướng

Chỉ tướng của hai gò má, cũng gọi là “đông nhạc”, “tây nhạc”, “nhân phủ”. Các nhà tướng thuật cho rằng, xương gò má ở hai bên đối xứng nhau thì tốt, không nên nhô cao hoặc lõm xuống. nếu gò má kéo dài đến đường chân tóc mai thì đó là tướng đại quý.

 

Răng chuột

Chỉ tướng răng, răng hàm trên che kín răng hàm dưới. người có tướng răng này tuổi trẻ gặp nhiều khó khăn, trắc trở.

 

Răng răng cưa

Chỉ răng hàm trên và hàm dưới giống hình răng cưa. Người có tướng này vừa giàu có, vừa sống thọ.

 

Sàm nham chi tướng

Chỉ tướng hùng vĩ, kỳ lạ, là quý tướng. nếu người này có thâng sắc và giọng nói tốt nữa thì chắc chắn là nhân tài xuất chúng.

 

Sao tử khí

Một trong nhị thập bát tú, chỉ ấn đường. ấn đường rộng và sáng sủa, không có nếp nhăn là quý tướng.

 

Sắc mặt như quả dưa

Chỉ sắc mặt xanh lét, là quái tướng.

 

Sơn căn

Nằm ở giữa hai mắt, là nơi bắt đầu của mũi, nên nhô cao và có sắc tươi sáng.

 

Sủy cốt

Dùng tay sờ các xương để đoán tính cách, vận mệnh; cũng gọi là “sủy hình ma cốt”.

 

Sủy hình ma cốt

Dùng tay sờ các xương để đoán tướng mệnh, là phương pháp xem tướng của các thấy tướng mù.

 

Sư hình (hình sư tử)

Là một loại tướng “người có hình dạng giống như cầm thú”. Đầu vuông, trán rộng, gáy có xương tháp sơn nhô lên, thiên đình nhô cao, lông mày rậm, mắt trắng, đồng tử đen và to tròn, sơn căn đứt gãy, miệng rộng, rây rậm, gò má cao. Người có tướng này là người quyền thế.

 

Tai chuột

Chỉ tai có hình giống tai chuotj, có vành tai nhưng không có gờ. Người có tai chuột là người đa nghi, giỏi tích lũy tài sản.

 

Tai dài chấm vai

Chỉ tai to, dày, dái tai chạm xuống vai.

 

Tai hươu

Chỉ tai trông giống như cánh sen. Người có tướng này tuy nghèo khổ nhưng vẫn sống lạc quan.

 

Tai khỉ

Là tướng tai có nhĩ môn nhỏ, hẹp, nhịn và hướng về phía trước. Người có tai khỉ là người gian giảo, tâm địa thâm hiểm.

 

Tai lợn

Chỉ tai to, không có vành tai, không có dái tai. Người có tướng này là người ngu đần và tham lam.

 

Tai sát đầu

Chỉ tai sát vào đầu và cao ngang lông mày, đay là quý tướng.

 

Tai trắng hơn mặt

“Đông pha chí lâm” ghi chép: Âu Dương Văn Trung thường nói: lúc nhỏ, có một ông sư xem tướng cho tôi, nói: tai trắng hơn mặt, tỏn gloox tai mọc lông là tướng trường thọ.

 

Tái trửu

Chỉ một cánh tay có hai khuỷu tai. Đây là dị tướng.

 

Tam ao ỵ (mũi ba khúc)

Chỉ tướng mũi: sống mũi đến chuẩn đầu chia thành ba khúc. Các nhà tướng thuật cho rằng đây là tướng cô độc, bần hàn.

 

Tam biểu

Chỉ tam tài

 

Tam chủ

Chỉ sơ chủ, trung chỉ và mạt chủ; lần lượt tương ứng với thượng đình, trung đình và hạ đình của khuôn mặt. Ba bộ phận này lần lượt chủ về vận khí thời kỳ lúc nhỏ, thời trung niên và những năm cuối đời của con người. có một thuyết khác cho rằng đó là tên gọi chung của phần gốc các ngón tay trỏ, ngón tay giữa và ngón út. Sơ chủ chỉ gốc của ngón tay trỏ, thuộc Tốn vị; trung chủ chỉ gốc của ngón tay giữa thuộc Ly vị; mạt chủ chỉ gốc của ngón tay út, thuộc Khôn vị.

 

Tam đài

Chỉ hai xương gò má và góc trán. Có thể căn cứ vào bộ vị này để đoán biết công danh của một người

 

Tam đình

Các nhà tướng thuật phân sắc mặt và cơ thể con nguời thành ba bộ phận gọi là tam đình thượng, trung, hạ, căn cứ vào đó để phán đoán vận mệnh và tính cách của con người. vị trí của tam đình trong tướng mặt là: thượng đình: từ đường chân tóc đến ấn đường; trung đình: từ ấn đường đến chuẩn đầu; trung đình từ vai đến eo, hạ đình từ eo đến chân. Các nhà tướng thuật thời ccoor đại xuất phát từ tư tưởng thiên, địa, nhân hòa hợp, cho rừng tam đình đối xứng, cân bằng là tướng tốt. “Ma Y thần tướng” cũng viêt “tam đình cân xứng, phú quý vinh hiển”.

 

Tam giác nhãn (mắt tam giac)

Chỉ mắt hình tam giác, là tướng tâm địa xấu xa. “thần dị phú” viết: mắt tam giác là tướng độc ác, cô độc.

 

Tam giáp

Chỉ lưng rộng, to , dày, tạo thành hình chữ lũy. Trong tướng học cho răng đây là tướng phúc thọ. “thần tướng toàn biên” nói rằng: lưng như tam giáp, gáy đầy đặn, hai vai căng, đầy đặn.

 

Tam kỳ

Là phần thịt nhô lên ở dưới ngón tay trỏ, ngón tay giữa và ngón áp út. có thể dựa vào bộ vị này để quan sát phúc thọ của con người.

 

Tam lậu nhĩ

Chỉ tai có ba lỗ: đây là dị tướng. lậu nghĩa là lỗ.

 

Tam nhâm

Là thuật ngũ của lý số. Chỉ người trên bụng có Tam nhân (tức bụng dưới phình to), tượng trưng cho sự trường thọ. “chiến Quốc sách  Ngụy chí – Quản lược truyện” có viết: trên trán ta không có sinh cốt, trong mắt không có thủ tinh, mũi không có sống mũi, chân không có gót chân, lưng không có Tam giáp, bụng không có tam nhâm; đó đều là tướng không sống thọ”.

 

Tam quang (ba sáng)

Chỉ trán, mũi và gò má. Những bộ vị này sáng sủa là tướng tốt.

 

Tam sơn

Chỉ trán và hai gò má.

 

Tam sơn cốt

Chỉ xương trán và hai xương gò má.

 

Tam tài

Tài là một khái niệm quan trọng trong thuật số Trung Quốc. Tam tài chỉ thiên, địa, nhân. Đồng thời cũng là cách gọi khác của tran, mũi, quai hàm trong tướng thuật. “thần tướng toàn biên” viết: Tam tàu, trán là thiên, nên rộng và tròn, thiên. Mũi là nhân, nên vượng nà ngay ngắn, được như vậy mới được coi là có nhân. Quai hàm là địa nên vuông và rộng, được như vậy mới được coi là có địa.

 

Tam tài văn (chỉ tam tài)

Lòng bàn tay của con người có ba loại đường chỉ tay là đường thiên văn (đường tình cảm), địa văn (đường sinh mệnh), nhân văn (đường trí tuệ), gọi chung là tam tài. Lòng bàn tay có ba đường tay chính, nhìn nghiêng tạo thành hình chữ “xuyên”; đướng ở trên cùng là thiên văn, đường ở giữa là nhân văn, đường ở dưới cùng là địa văn. Đường tam tài đại diện cho số mệnh bẩm sinh của một con người, do trẻ nhỏ hấp thụ khí của đất trời hình thành, quyết định cơ sở cho tố chất sau này. Tuy nhiên, đường tam tài này có thể biến đỏi theo những thay đổi của cuộc sống sau này.

 

Tam thập lục thiện

Chỉ ba mươi sáu tướng tốt trong tướng học. “thanh sương tạp ký” quyển bốn của Ngô Xử Hậu: một, người có chí muốn làm quan, tất phải như vậy. Hai, làm việc có cương có nhu. Ba, muốn gần người quân tử. Bốn, có đồ ăn ngon thì chia sẻ cho người khác. Năm, không gần kẻ tiểu nhân. Sáu, thường xuyên tích đức, mọi sự đều thuận lợi. bảy, từ nhỏ đã có thể quản lý gia đình. Tám, không ghét nguwoif nhờ vả giúp đỡ. Chín, làm việc lợi cho người, hại cho mình. Mười, không tham lam, độc ác, sát sinh. Mười một, bình tĩnh đối mặt với mọi sự việc. Mười hai, giữ lời hứa với người khác. Mười ba, không dễ dàng thay đổi tiết tháo. Mười bốn, ban đên chỉ nằm xuống là ngủ ngay. Mười lăm, khi cưỡi ngựa không quay đầu ngoái lại. mười sáu, ban đêm không sai khiến người khác. Mười bảy, không truy cứu lỗi lầm của người khác. Mười tam, làm việc cho người khác thì chu đáo. Mười chín, không quên ơn huệ của người khac với mình. Hai mươi, từ nhỏ đã rộng lượng. hai mươi mốt, không nói xấu người khác. Hai mươi hai. Giúp đỡ người cô quả, neo đơn. Hai mươi ba, không giúp mạnh hiếp yếu. hai mươi tư, không quên bạn cũ. Hai mươi lăm, làm việc vì mọi người. hai mươi sáu, giữ chữ tín. Hai muoi bảy, nhận được quà của người khác thì thấy xấu hổ. Hai mươi tám, nói lời hay ý đẹp, có đầu có đuôi. Hai mươi chín, nói chuyện có thứ tự, không cướp lời người khác. Ba mươi, thường xuyên làm việc thiện. ba mươi mốt, không chê cuộc sống nghèo khổ. Ba mươi hai, biết cư xử khéo léo, tùy thời. ba mươi ba, không ngừng làm việc thiện. ba mươi tư, thường xuyên giúp đỡ người bần hàn. Ba mươi lăm, không nhớ thù cũ. Ba mươi sáu, nếu bạn cũ gặp hoạn nạn thì tận lực giúp đỡ. Người có đủ ba muoi sáu tướng nói trên là người làm quan to, sống thị, chết yên lành. Nếu không có đủ tất cả những tướng trên thì phúc họa đan xen, tùy theo số lượng mà co sự khác biệt. Người có hai mươi tướng làm chức thứ sử, người có mười tướng trở lên làm chức tả lệnh, người có năm, sáu tướng là người đại phú.

 

Tam tiêm (ba nhọn)

Chỉ đầu nhọn, miệng nhọn, gò má nhọn. “Ngọc quản chiếu thần cục” nói rằng: đầu nhọn, địa các nhọn, miệng nhọn gọi là tam tiêm. Người có đầy đủ tam tiêm thì chủ về quý; người có tam tiêm không đầy đủ: đầu nhọn thì không được cha mẹ giúp đỡ, địa các nhọn thì không có sản nghiệp, miệng nhọn thì không sống thọ.

 

Tam trụ

Chỉ đầu, mũi, chân. Đầu là thọ trụ, mũi là lương trụ, chân là đông trụ.

 

Tam xuyên văn

Chỉ những nếp nhăn ở trên lưỡi tạo thành hình chữ xuyên. Trong tướng học cho răng đây là quý tướng. “Nhân luận đại thống phú” quyển hạ có viết: người có đầy đủ đường tam xuyên chắc chắn là người rất giàu có.

 

Tang khóc thiên la

Một trong mười thiên la. Chỉ sắc mặt trắng bệch, là khí sắc xấu.

 

Tay như gừng khô

Chỉ người phụ nữ có đôi tay gầy. Đây là tướng của người giỏi quản lý gia đình. “thần dị phú” có viết: người phụ nữ có đôi tay giống như gừng khô giỏi quản lý gia đình.

 

Tâm tướng thiên

Kinh điển của tướng học thời cổ đại, do Trần Bác thời Tống biên soạn.

 

Tật bệnh thiên la

Một trong mười thiên la. Khuôn mặt có sắc màu vàng, là khí săc xấu.

 

Tay vượn

Chỉ tay dài như tay vượn.

 

Tay nhạc

Một trong ngũ nhạc

 

Tê thâm dung lý (rốn sâu vừa quả mận)

Chỉ lỗ rốn to, rộng, có thể nhét vừa một quả mận. đây là tướng phú quý.

 

Tê hình

Là một loại tướng “người có hình dạng giống với cầm thú”. Chỉ tướng: xương thiên đình nhô cao, ấn đường rộng, mũi hếch, khi bước đi mặt ngẩng cao và sải bước nhanh. Đây là quý tướng.

 

Tê tướng

Chỉ đường của rốn. tướng của rốn ảnh hưởng trực tiếp đến cát hung, phúc họa và phúc thọ của con người. rốn to, sâu là tướng tốt. Người có tướng này là người đa phúc, đa thọ, thông minh, đa trí; người có rốn nông, hẹp là người hạ tiện và ngu dốt.

 

Tế độc

Sông Tế. Một trong bốn con sông lớn của Trung Quốc (Tứ độc). Chỉ mũi, mũi cao, tròn, nhẵn, không hếch, lỗ mũi không lộ là tướng tốt.

 

Thái âm

Chỉ mắt bên phải, mắt đen là tướng tốt.

 

Thái dương

Chỉ mắt bên trái, mắt sáng là tướng tốt.

 

Thái thanh thần giám

“thái thanh thần giám” là một bộ sách tướng số phổ biến rộng rãi vào thời Minh, sau này được cất giữ bí mật trong cung cấm, hoàng đế ra lệnh không được truyền bá cuốn sách này ra ngoài cung. Đây là một kinh điển quý giá của tướng học mà các tướng sĩ tài giỏi đều muốn sỡ hữu. hoàng đế chọn người hiền phần lớn dựa trên nghiên lý của bộ sách này. Việc quan sát này còn đề cập đến những nội dung mà các sách tướn thuật khác ít nói đến như: tư thái, nhãn thần, khí huyết, ngữ khí, âm điệu, dáng nằm và bước đi nhanh hay chậm.

 

Thái Tố

Một loại tướng thuật thời cổ, căn cứ vào mạch tượng để phán đoán tuoir thọ phúc họa, tiền đồ của con người. tương truyền loại tướng thuật này do ẩn sĩ ĐỔng Thích thời Đường sáng lập và sau đó được Trương Thái Tố phát huy, nên có tên gọi là Thái Tố.

 

Thái Tố mạch pháp

Một cuốn sách nổi tiếng về tướng thuật. “độc thư mân cầu ký” ca tụng rằng: “cuối thời Đường có một người tiều phu tìm thấy một cuốn sách trong một chiếc hộp bằng đá”. “Tứ khố toàn thư tổng mục” ghi chép rằng: cuốn sách “Thái Tố mạch pháp” không rõ tác giả là ai. Cuốn sách này căn cứ vào mạch tượng để phán đoán cát hung, quý tiện của con người; nội dung hoang đường; có thể là do những thuật sĩ thời sau ngụy tạo” và còn cho rằng Thái Tố mạch pháp “hưng vào thời Bắc Tống”, nên cuốn sách này được coi là tác phẩm của sau thời Bắc Tống. tác phẩm hiện đã thất truyền.

 

Thanh la quá quan

Chỉ đường gân xanh nhỏ, kéo dài từ năm ngón tay đến đưuòng vân tay lớn thứ ba trong lòng bàn tay. “ngọc qunar chiếu thần cục” viết rằng: đường thanh la kéo dài từ năm ngón tay đến đường thiên văn gọi là “quá quan”.

 

Thanh la quán chỉ

Chỉ bộ phận từ năm ngón tay đến đường vân tay lớn thứ nhất giữa lòng bàn tay nổi đầy gân xanh. “Vương quản chiếu thần cục” viết rằng: nếu đường gân xanh xuyên qua năm ngón tay đến đường thiên văn cho thấy người này mắc bệnh về tỳ, thận, sức khỏe và tinh thần không tốt.

 

Thanh tướng

Một trong tám loại tướng. chỉ hình dáng, tướng mạo thanh nhã, thoát tục.

 

Thặng xà tỏa thần (rằn thần khóa miệng)

Thặng xà chỉ một loại rắn thần trong truyền thuyết. ở đây chỉ hai đường pháp lệnh ở hai bên cánh mũi. Người có đường pháp lệnh kéo dài đến miệng là người ăn không đủ no, phần lớn bị chết đói.

 

Thân như cây khô

Chỉ dáng người nghiêm trang, lặng phắc ít cử động. đây là một loại cổ tướng.

 

Thân như cây sáo gãy

Chỉ lưng không thể vươn thẳng; cây sáo gãy chỉ lưng gã gập. “tuân Tử - phi tướng” có viết: hình dáng của Chu công như cây sáo gãy; bên trái có chú: Chu công gù lưng, không thể đứng thẳng.

 

Thân như vây cá dựng đứng

Chỉ thân mình như vây cá đứng thẳng, chỉ lưng gù.

 

Than tướng tam đình

Các nhà tướng thuật phân cơ thể con người thành ba bộ phận gọi là thượng, trung, hạ tam đình. Tam đình của khuôn mặt và tam đình trên cơ thể cân đối là tướng tốt. “Thái thanh thần giám” quyển năm (tựa đề cũ do Vương Phác thời hậu Chu biên soạn) có viết: “Tam đình của khuôn mặt, từ dưới đường chân tóc cho đến giữa lông mày là thượng đình; từ giữa lông mày cho đên chuẩn đầu là trung đình; từ nhân trung đến cằm là hạ đình. Tam đình giống như tam tài, thượng đình giống như thiên, trung đình giống như nhân, hạ đình giống như địa. Thượng đình dài và đầy đặn, vuông và rộng là quý tướng; trung đình nhô cao mà thẳng, hiên ngang mà tĩnh chủ về thọ; hạ đình vuông và đầy đặn, ngay ngắn và dày chủ về phú. Tam đình đều cân đói là người có tướng tốt. “Quyển thứ hai trong “thần tướng toàn biên” là Thần tướng tam đình” có viết: cơ thể phân thành tam đình: đầu là thượng đình; người thấp nhỏ nhưng đầu to là người có đầu nhưng không có cuối; người cao to, đầu nhỏ là người cả đời nghèo hèn. Từ vai đến eo là trung đình nên cân đối, ngắn thì không sống thọ thọ, dài thì nghèo khổ; người đứng ngồi ngả nghiêng không sống thọ. Từ eo đến chân là hạ đình, hạ đình nên cân xứng với thượng đình, không nên quá dài, dài thì nhiều bệnh tật, người có thượng trung, hạ tam đình không cân đối là người không sống thọ. Tam đình trên cơ thể cân đối là tướng tốt”. “Kim Bình Mai từ thoại” hồi hai muoi chín có viết: “Vị nương, tam đình bằng nhau, cuộc sung sướng, phú quý”.

 

Thần bất túc

Chỉ thần thái hoảng hốt, hỗn loạn, khiếp đảm, không thể tự kiềm chế. Người có tinh thần bất an trông như say rượu, buồn bã: không ngủ mà trông như đang ngủ, không khóc mà trông như khóc, thường tỏ ra hoảng loạn, không tức giận mà như đang tức giận, không vui mừng nhưng trông như bị điên; sắc mặt u tói, hành vi hỗn loạn: sắc mặt như mắc bệnh thần kinh, thần sắc thảm thương như bị mất của; tỏ ra lo lắng hoảng hốt; trông như bị đe dọa; ăn nói lắp bắp, giọng nói run rẩy, giống như đang xấu hổ; mặt cúi gằm giống như bị lăng nhục; sắc mặt lúc đầu tươi tắn, sau u tối; lúc đầu nói nhanh, sau không nói gì. Người có tướng này là người vô phúc vô thọ.

 

Thần cơ tướng tự pháp

Cũng gọi là “Cảnh đề tự chí lý tập”, là một cuốn sách tướng thuật thời cổ đại, do Cảnh Tề biên soạn. cuốn sách này đã được thu thập vào “Vĩnh Lạc đại điển”.

 

Thần hữu dư

Chỉ tinh thần ổn định, khí định thần nhàn, ung dung, không vội vã. Người có tướng này thì mắt sáng như sao, luôn nhìn thẳng, lông mày thanh tú, tinh thần hứng khởi, sắc mặt tươi sáng, cử chỉ mạnh bạo. Khi gặp khó khăn thì cương nghị, gióng như mãnh thú tiến vào rừng sâu, tiêu diêu xuất chúng, giống như phượng hoàng tung cánh bay trên trời; ngồi vững như đá chồng, nằm không nghiêng lệch; dáng đi khoan thai như nước chảy; dáng đứng hiên ngang như đỉnh núi cô độc, dựng đứng; không nói năng bừa bãi, tính khí điềm đạm; vui buồn không thể hiện ra nét mặt; kiên định tiết tháo, không bị ảnh hưởng bởi những chuyện xung quanh. Người có tướng này vừa phú quý, vừa trường thọ.

 

Thần quang

Chỉ sắc mặt hồng hào, sáng sủa; đây là tướng danh lợi vẹn toàn, tức là tướng vừa phú lại vừa quý.

 

Thần tình

Chỉ thần sắc và tình thái. Bộ môn tướng học cho rằng căn cứ vào thần tình của con người có thể phán đoán được tính cách nội tâm và tiền đồ của người đó.

 

Thần tướng

Là tướng của môi. Quan sát tướng của môi có thể suy đoán được số mệnh quý, tiện của con người. Môi nên dày không nên mỏng, nên có góc cạnh, không nên nhăn nhúm. Người có môi đỏ là tướng quý, phúc; người có môi màu xanh chàm gặp tai họa và yểu mệnh; môi có u sắc u tối thì người này sẽ mắc bạo bệnh mà chết; môi có sắc tím thì người này sống vui vẻ, sung túc; người có môi nhăn nhúm sẽ chết yểu; người có môi mỏng thì nghèo khổ. Người có môi trên mỏng là người ăn nói xảo trá; môi dưới mỏng là người nghèo khổ, đen đủi. người có môi trên và môi dưới đều dày là người trung tín; môi trên và môi dưới đều mỏng là người xu nịnh. Người có môi trên và môi dưới không khép chặt là người bần hàn; người có môi nhọn chết trong nghèo khổ; người môi trề là người cô hàn; trên môi có nếp nhăn là người nhiều con cháu, không có nếp nhăn là người cô độc.

 

Thần tướng kim giảo tiễn

Sách tướng thuật thời cổ, là một trong những sách tướng thuật phổ biến ở thành thị từ cuối thời Thanh đến nay.

 

Thần tướng toàn biên

Là sách tướng thuật thời cổ, do Trần Bác biên soạn, là một trong những sách tướng thuật phổ biến nhất thời Minh và Thanh. Cuốn sách này có tất cả hai mươi tám quyển; quyển thứ nhất có tổng luận, có phân luận. đây là một kiệt tác lớn về tướng thuật.

 

Thập đại không vong

Số mệnh học phối hợp mười thiên can và mười hai địa chỉ, còn thứa lại hai địa chi, hai địa chi đó gọi là “không vong”; nếu nó xuất hiện trong bát tự thì là điềm xấu. Trong tướng học “không vong” là tên gọi của tướng hung ách. Thập đại không vong chỉ mười loại tướng xấu trong tướng mặt. Quyển thứ ba trong “thần tướng toàn biên” là “Diện thượng thập đại không vong” giải thích rất chi tiết về những loại tướng này, viết rằng: “trán nhọn là thiên cung, không có số làm quan, khó phát huy được tổ nghiệp, chủ về cô hình. Nếu người cha bị tổn thương không sống đến 50 tuổi thì trước 50 tuổi mọi việc đều không được thuận lợi. góc thiên địa chủ về tuổi già cô quả; người vợ gặp khó khăn, vợ chồng chia ly; họ hàng bất hòa. Đó là tướng cảu người bình thường. Thiên ách lõm là một không, chủ về ít bổng lộc, người có tướng này là người chay tịnh, đầu óc đơn giản, không cáng đáng được gia nghiệp, là tướng về già phải sống vất vả. Khuôn mặt không có đường nét rõ ràng là một không. Đây là tướng đại kỵ. Người có tướng này không làm nên thành tựu gì, không có mưu lược, không sống thọ, và cũng không được kế thừa gia nghiệp tổ tiên. Đây là tướng của người bình thường. sơn căn lõm là một không. Người có tướng này phải rời xa tổ tiên, không được họ hàng giúp đỡ gì, người trong nhà đối xử vô tình, anh em xa cách; người này không có năng lực. Phong môn lộ là một không. Tướng này chủ về tài sản phá tán, họ hàng xa cách, vợ chồng không sống trọn đối với nhau, điền trang và cơ nghiệp của tổ tiên bị phá sản. râu không che kín môi là một không. Người có tướng này là người vất vả, bạn bè vô tình, tài sản bị phá tán; tướng này chủ về con cháu bất tài. Tai không có vành cong là một không. Người có tướng này phá tổ ly tông, không có chốn nương thân, tài sản tiêu tan, là người không làm nên thành tựu gì. Miệng không có ria mép, suốt đời vất vả, là tướng hèn kém.

 

Thất môn

Chỉ hai đấu môn (lông mày), hai gian môn (đuôi mắt), hai mệnh môn (lỗ tai) và sống mũi.

 

Thất tinh

Chỉ nốt ruồi tạo thành hình thất tinh. Trong tướng học cho rằng đó là tướng phú quý.

 

Thị chiêm bất chuyển

Chỉ khi quan sát sự vật, đồng tử không chuyển động. người có tướng này là người có ý chí rất kiên cường.

 

Thị đoan xu tật

Chỉ việc quan sát thần thái và hành động để phán đoán về tâm thuật của con người.

 

Thị hạ ngôn từ (nhìn xuống nói chậm)

Chỉ ánh mắt nhín hướng xuống dưới, giọng nói yếu ớt, phều phào. Đây là tướng thần khí bất túc, không sống thọ.

 

Thị hạ vụ đới (nhìn thấp hơn eo)

Chỉ ánh mất thấp ngang vói thắt lưng người đối diện. Người có tướng này là người hay lo lắng, phiền muộn.

 

Thị khuynh (nhìn lệch)

Chỉ mắt nhìn xiên, lệch, không nhìn thẳng về phía trước. Người có tướng này là người khẩu Phật tâm xà.

 

Thị nhật bất thuấn

Có thể nhìn thẳng vào mặt trời mà không lóa mắt. Đây là quý tướng.

 

Thị thượng vu diện (nhìn cao hơn mặt)

Ánh mắt cao ngang với khuôn mặt của người đối diện. người có tướng này là người cao ngạo, không coi ai ra gì.

 

Thiên ách

Cũng gọi là cung thiên di, nằm ở phía trên đuôi lông mày. Thiên di đều đặn là tướng tốt. “thần dị phú” có viết: Mi mao phú thiên ách, xuất nhập cận quý. Chú giải: thiên ách nằm ở phía trên đuôi lông mày, nếu lông mày cong như trăng lưỡi liềm và  che thiên ách thì chủ về tướng thông minh, được gần người sang.

 

Thiên biểu

Là cách gọi tôn kính của các sử gia và các nhà tướng thuật đối với hoàng đế. Người thời cổ đại coi mặt trời là đấng chí tôn trong vũ trụ tự nhiên, hoàng đế là bậc cao quý nhất trong xã hội loài người. xuất phát từ tư tưởng con người và trời đất cũng hòa hợp, các nhà tướng thuật đã kết hợp hai quan niệm trên, cho rằng trời và mặt trời tượng trưng cho thần thái, ngoại hình của bậc đế vương.

 

Thiên chuyển tương hợp

Một trong ngũ hợ. “luân ngũ ứng ngũ hợp” trong “Ngọc quản chiếu thần cục” có viết: kính trên nhường dưới và trung hiếu, coi trọng những cái cũ và rất tín nghĩa được coi là thiên chuyển tương hợp.

 

Thiên cơ tương hợp

Một trong ngũ hợp. “Luận ngũ ứng ngũ hợp” trong “Ngọc quản chiếu thần cục” có viết: là người hiểu biết và cơ biến; tấm lòng rộng lượng, khoan dung được coi là thiên cơ tương hợp.

 

Thiên cơ tương ứng

Một trong ngũ ứng. “Luận ngũ ứng ngũ hợp” trong “Ngọc quản chiếu thần cục” có viết: lông mày thưa và thanh tú, có thần; góc nhật nguyệt nhô cao mà không thô được coi là thiên cơ tương ứng.

 

Thiên cốt

Là cốt cách bẩm sinh.

 

Thiên cung tương hợp

Một trong ngũ hợp. “Luận ngũ ứng ngũ hợp” trong “ Ngọc quản chiếu thần cục”: ánh nhìn kín đáo, giọng nói trong trẻo, trọng lượng nặng nhưng đi lại nhẹ nhàng được coi là thiên cung tương hợp.

 

Thiên cung tương ứng

Một trong ngũ ứng. “Luận ngũ ứng ngũ hợp” trong “Ngọc quản chiếu thân cục” có viết: mũi cao nhưng không lộ sống mũi, mặt không có vết sẹo và bằng phẳng được coi là thiên cung tương ứng.

 

Thiên địa tương hợp

Một trong ngũ hợp. chỉ cốt cách ngay ngắn và có kích thước thích hợp; là người ăn nói thẳng thắn, biết hòa hợp cương nhu.

 

Thiên địa tương ứng

Một trong ngũ ứng. “Luận ngũ ứng ngũ hợp” trong “Ngọc quản chiếu thần cục” có viết: thiên đình nhô cao và ngay ngắn, địa các thấp và to tròn được coi là thiên địa tương ứng.

 

Thiên đình

Một trong mười ba bộ vị, cũng gọi là khuyêt đình, nằm ở giữa trán. Thiên đình nhô cao, không nghiêng, lõm là tướng tốt. Thiên đình cũng chỉ bộ vị ở giữa hai lông mày.

 

Thiên đường

Chỉ phần trên của trán

 

Thiên giác

Chỉ góc trán

 

Thiên giác cốt

Chỉ xương góc trán. Xương này phát triển là quý tướng.

 

Thiên luân

Chỉ vành tai

 

Thiên luân tương hợp

Giống như “thiên chuyển tương hợp”.

 

Thiên môn

Chỉ lỗ mũi và cũng chỉ khoảng cách giữa hai lông mày.

 

Thiên nhật chi biểu

Cũng gọi là thiên biểu, nhật biểu; là cách gọi tôn kính của các sử gia và các nhà tướng thuật thời cổ đại đối với bậc đế vương. Người thời cổ đại coi mặt trời là đấn chí tôn trong vũ trụ tự nhiên, hoàng đế là bậc cao quý nhất trong xã hội loài người. xuất phát từ tư tưởng con người và trời đất cũng hòa hợp, các nhà tướng thuật đã kết hợp hai quan niệm trên, cho rằng trời và mặt trời tượng trưng cho thần thái, ngoại hình của bậc đế vương.

 

Thiên phủ

Thiên đình và hai xương nguyệt giác và nhật giác được gọi là thiên phủ. Thiên phủ gồm hai xương gò má và thiên ách, tức là khu vực trán ở gần đường chân tóc, chủ về vận khí của những năm đầu đời. thiên phủ đầy đặn, sáng sủa là tướng tốt.

 

Thiên tâm tương hợp

Một tỏng ngũ hợp. “Luận ngũ ứng ngũ hợp” trong “Ngọ quản chiếu thần cục” có viết khí ôn và sáng sủa, sắc thanh khiết và không có tỳ vết được coi là thiên tâm tương hợp.

 

Thiên tâm tương ứng

Một trong ngũ ứng. chỉ ấn đường ngay ngắn, sáng sủa; ba phẩn của khuôn mặt cân đối, ngay ngắn.

 

Thiên thành cốt

Chỉ xương trán to tròn, là quý tướng.

 

Thiên trung

Một trong mười ba bộ vị, nằm ở chính giữa trán, gần đường chân tóc. Tham khảo phần nói về mươi ba bộ vị. Có thuyết cho rằng thiên trung là mũi.

 

Thiện tướng

Các nhà tướng thuật coi tướng có thần sắc, hình dáng ngũ quan và giọng nói tốt là thiện tướng. cụ thể là: đầu nhọn và cứng; trán vuông và rộng; lông mày thưa và thanh tú; mắt dài và tinh nhanh; vành tai phẳng và dày; sống mũi cao, thẳng, ức rộng, lưng gồ và dày; nhân trung rõ nét; môi ngay ngắn; khí hòa và thuận; giọng nói tròn trịa và vang vọng; thân hình cân đối và đẹp đẽ: sắc mặt tươi sáng, da mịn, ăn nói có đầu đuôi , ăn uống có chừng mực, đi đứng hợp lễ nghi.

 

Thọ cốt

Chỉ xương gò má đầy đặn, kéo dài đến mang tai. Đây là quý tướng.

 

Thọ đới

Chỉ nếp nhăn từ hai bên mũi kéo dài xuống dưới, qua cằm, đây là tướng trường thọ.

 

Thọ đường

Chỉ nhân trung. Người có nhân trung và thượng các nhỏ, hẹp hiển vinh nhưng tuổi già sống cô độc, không có vợ con; bên trên thượng các nhỏ, hẹp thì lúc trẻ không có con, về già mới có con. Ngoài ra, thọ đường còn là tên của một loại xương, gọi là “thọ tinh cốt”, chỉ xương nhô lên ở sau tai. Người có loại xương này là người sống thọ.

 

Thọ hào

Cũng gọi là “mi hào”, “nguyện hào”. Chỉ lông mày dài một tấc. Đây là tướng trường thọ.

 

Thọ thao

Cũng gọi là “hạng thao”. Chỉ đường pháp lệnh ở hai bên cánh mũi kéo dài đến phần cong ở cổ bên dưới cằm. Đây là tướng trường thọ.

 

Thọ thượng

Một trong mười ba bộ vị, nằm ở dưới niên thượng, trên chuẩn đầu. Thọ thượng và niên thượng có tên gọi chung là niên thọ.

 

Thọ tinh

Chỉ tai. Tai dày va áp suất vào đầu là tướng sống thọ.

 

Thọ tướng

Chỉ tướng trường thọ. Tướng trường thọ có những đặc trưng sau: ngũ nhạc đầy đặn, đường pháp lệnh rõ nét, lông mày có “trường hào” (sợi lông mọc dài hơn hẳn so với những chiếc còn lại), trán có hoành cốt, da mày dày, giọng nói trong trẻo, âm vang, lưng dày, ngực bằng và rộng, răng nhiều và đều, dáng đi và dáng đứng đoan chính, mắt có thần, tai có “trường hào”, sống mũi cao.

 

Thố hình (hình nhỏ)

Là một loại tướng “người có hình dạng giống cầm thú”, chỉ tướng” trán nhọn lông mày nhỏ, tai cao, môi hồng, mắt đen, miệng nhỏ và vuông. “Ngọc quản chiếu thần cục” nói rằng: người thố hình đầu nhỏ, trán nhọn và nhô cao, mắt nhỏ, lông mày nhỏ, mắt nhiều lòng đen, ít lòng trắng, miệng nhỏ và vuông. Phụ nữ có tướng này sẽ làm quý phi.

 

Thổ âm

Là một trong ngũ âm được phan loại dựa trên Ngũ hành, cũng gọi là Thổ thanh Trương Hành Giản trong “Nhân luận đại thống phú” viết rằng: giọng nói như tiếng chuông. Tiết Diên Niên chú giải: Thổ âm trầm và dày, hoàn toàn được phát ra từ cổ họng”.

 

Thổ hình

Chỉ căn cứ theo Ngũ hành để phân loại, là người thuộc về hình tượng của hành Thổ, xuất phát từ “Linh xu – Âm dương thập nhị ngũ nhân”. Người thuộc hành Thổ có đặc trưng như sau:da vàng, mặt tròn, đầu to, lưng và vai đẹp, bụng to, đùi và cẳng chân đẹp, chân và tay nhỏ, nhiều thịt, trên và dưới cân đối, đi lại nhẹ nhàng, tâm trạng ổn định, thích làm lợi cho người khác, không thích quyền thế, hay a dua theo người khác. Hợp với mùa thu và đông, không hợp vơi mùa xuân và hè; mùa xuân và mùa hè cảm mà sinh bệnh.

 

Thổ thanh

Chỉ giọng nói.

 

Thổ tinh

Một trong ngũ tinh, cũng gọi là Thổ tú

 

Thổ tú

Sao Thổ, chỉ mũi.

 

Thông minh bộ học đường

Một trong tám học đường, chỉ đôi tai.

 

Thúc phục

Nhà tướng thuật thời Xuân Thu, từng giữ chức nội sử.

 

Thùy châu triều hải

Chỉ dái tai hướng về miệng, là điềm phúc thọ.

 

Thủy âm

Một loại trong ngũ âm. Cũng gọi là thủy thanh; thủy âm trong trẻo và tròn trịa.

 

Thủy hình

Là một trong ngũ hành hình tướng. “thần dị phú” chú rằng: người thủy hình tròn trịa, đầy đặn, bụng phệ, lưng gù, sắc mặt đen, khí tĩnh, xương nặng, thịt nhẹ. “chiếu đảm kinh” viết rằng: thủy hình tròn trịa, đầy đặn nhô cao, rộng mà không bí bách.

 

Thủy tinh

Là một trong mười ba bộ vị, chỉ môi trên và môi dưới. ngoài ra, còn có cách nói chỉ một trong ngũ tinh trên khuôn mặt, chỉ miệng. “thần tướng toàn biên” viết răng: thủy tinh là miệng, gọi là nội học đường; miệng rộng, môi hồng, có bốn góc, nhân trung sâu, răng mọc thẳng, đều là tướng tốt.

 

Thử thực (ăn như chuột)

Cũng gọi là “thử xạn”. chỉ tướng ăn giống như con chuột, ăn từng miếng nhỏ một cách vội vàng, khuôn mặt tỏ vẻ sợ sệt. Người có tướng này không những keo kiệt mà còn tham lam.

 

Thừa tương

Một trong mười ba bộ vị. Là phần lõm xuống ở bên dưới môi dưới, phần này đầy đặn thì tốt.

 

Thượng đình

Phần bên trên của tam đình trên mặt, tính từ đường chân tóc đến đầu lông mày. Căn cứ vào thượng đình có thể phán đoán được vận mệnh thời trẻ của con người.

 

Tiên cốt

Chỉ tướng xương siêu phàm thoát tục.

 

Tiên khố

Chỉ hai bên cạnh nhân trung. Có thuyết cho rằng từ này cánh mũi bên trái. Trong “Nguyệt ba động trung ký” có viết: mũi cao là tướng quý, có khố (kho) thì sung túc. Mũi to, hai cánh mũi đỏ, trơn bóng là như vậy. Người có tiên khố là tướng giàu có, phú quý... Tiên khố cũng gọi là lan đình.

 

Tiên nguyên

Chỉ mũi. “chân cáo” có viết: mũi là tiên nguyên.

 

Tiệt giản tỵ

Chỉ chuẩn đầu thẳng, ngay ngắn. đây là tướng sung túc, ăn no mặc ấm.

 

Tinh bằng hội hải

Sách về thuật tinh mệnh thời đại, gồm có mười quyển. sách này còn bao gồm cả thuật đoán mệnh Tử Bình và thuật đoán mệnh Ngũ tinh.

 

Tinh học đại thành

Sách về thuật tinh mệnh thời cổ đại, do Vạn Dân Anh thời Minh biên soạn, lần lượt được sắp xếp và chú thích: thứ nhất là phần luận đoán, viết về sơ đố các sao; thứ hai là sơ lượt về thuật chiêm tinh và mười hai cung vị; phần thứ ba chỉ ghi lại tác phẩm “Cầm đường hư thực”; phần thứ tư la cuốn “ Gia luật mật quyết”; phần thứ năm đến phần thứ bảy là “Tiên thành vọng đẩu” và “Tam thần thông tải”; phần thứ tám là “Tổng quy tử phủ”, “Chân tàng tinh kinh tạp trứ”; phần thứ chín là “Bích ngọ chân kinh”, “đặn sử kiều ao”; phần thứ mười là “Quang duật uyên vi”, cách cục của các sao. Cuốn sách này là vật bất ly thân của các nhà chiêm tinh học thời xưa; có thể coi là hoàn hảo.

 

Tinh mệnh tố nguyên

Sách về thuật tinh mệnh thời cổ đại. Sách này gồm năm quyển, là căn bản của những học thuyết Ngũ tinh đoán mệnh lưu truyền qua nhiều đời nay, và được tập hợp trong “Tứ khố toàn thư”.

 

Tinh thần thất hãm

Thuật ngữ của các nhà tướng thuật, chỉ tướng mắt, tai miệng, mũi, trán không tốt. Ví dụ như đôi mắt tương ứng với mặt trăng và mặt trời nhưng lại không sáng; mũi là Thổ tinh mà không sao. Đó được gọi là tinh thần thất hãm.

 

Tỉnh táo

Chỉ lỗ mũi.

 

Tổ chim

Chỉ mũi. Mũi gọi là tổ chim, cũng giống như mái nhà của con người. Do đó, sống mũi cao, thẳng là tốt.

 

Tốt bạo sát

Một trong năm tướng ác sát, chỉ lông mày nhọn và ngắn, mắt lúc nào cũng ướt như muốn khóc.

 

Trí Duyên

Là một nhà sư thời Bắc Tống, người Tùy Châu tỉnh Hồ Bắc, giỏi u thuật. Tuong truyền, ông có thể quan sát mạch tướng đoán biết được trạng thái hiền ngu, quý tiện, họa phúc; bắt mạch của người cha có thể đoán biết được cát hung của người con. Ông được gọi là kinh lược đại sứ.

 

Trời trong đất vuông

Trời chỉ đầu, đất chỉ trán. Đầu tròn, cao; chân vuông, dày là tướng tốt. “nhân luận đại thống phú” nói rằng: chân vuông tượng trưng cho đất ở bên dưới, đầu tròng tượng trưng cho đời bên trên.

 

Trung đình

Phần giữa cảu tam đình, tính từ đầu lông mày đến giữa sống mũi. Căn cứ vào trung tính có thể phán đoán được vận mệnh những năm trung niên của con người.

 

Trun chính

Một trong mười ba bộ vị, nằm dưới tư ngưu, bên trên ấn đường.

 

Trung nhạc

Tức Hành Sơn, trên tướng mặt chỉ mũi.

 

Trung tín bộ học đường

Một trong tám học đường, chỉ hàm răng. Răng trắng và đều là tướng chủ về trung tín từ hiếu.

 

Trùng đồng

Cũng gọi là trùng minh. Người có tướng này được tạo hóa ưu ái, có dị tài.

 

Trùng di (má kép)

Chỉ hai má đầy đặn; đây là tướng phú quý.

 

Trùng minh

Chỉ mắt có hai đồng tử, tức trọng đồng; đây là dị tướng. người có tướng này làm việc quyết đoán, xuất khẩu thành chương.

 

Trung ngạch (trán kép)

Chỉ trên trán có phần thịt thừa. Tướng học cho rằng đàn ông có tướng này thì phần lớn là vui vẻ; phụ nữ có tướng này thì phần lớn là đau khổ.

 

Trư thị (ánh nhìn như lợn)

Chỉ ánh mắt lấm lét, lúc nào cũng nhìn xuống dưới đất giống như con lợn. người có tướng này là người tâm thuật bất chính, tham lam, nhiều dục vọng.

 

Trư tướng (tướng lợn)

Là một loại tướng “người có hình dạng giống như cầm thú”: người ngắn, béo, ăn uống không biết chán, mắt mờ mịt và khồn phân rõ tròng đen và tròng trắng. người có tướng này thường chết bởi những tai nạn bất ngờ.

 

Trương Hành Giản

Một nhà tướng thuật thời Kim, tên tự là Kinh Phủ, người Nhật Chiếu Cử Châu, chăm chỉ học tập, dùi mài kinh sử. Năm Đại ĐỊnh thứ 19 (công nguyên năm 1179) đỗ đầu khoa từ phú; làm chức quan văn và còn làm chức Thái tử Thái phí, tên thụy, là Văn Chính. Hành Giản có ba mươi cuốn sách viết về văn học, một trăm hai mươi quyển viết về lễ trong bộ “ Trung chau tập” và “Kim sử bản truyền”. Trong đó, cuốn “nhân luân đại thống phú” được các nhà tướng thuật rất tôn sùng.

 

Tú hình

Là một loại tướng, chỉ tướng mạo thanh tú, xinh đẹp.

 

Túc lý quy văn

Chỉ bàn chân có những đường chỉ giống hình con rùa; đó là quý tướng.

 

Tục khố

Đây là tên gọi khác của cánh mũi bên phải và đình úy, đối xứng với cánh mũi bên trái và tiên khố; cánh mũi bên trái cũng gọi là lan đình.

 

Tục tướng

Một trong tám tướng. Người có tướng này sắc u tối, giống như vật chìm trong bụi.

 

Tung ý

Cũng gọi là “pháp lệnh”, “đằng xà”, “kim lũ”, “thọ đới”. chỉ nếp nhăn kéo dài từ hai bên cánh mũi đến miệng. người có tung ý kéo dài đến môi phần lớn là bị chết đói.

 

Tung lý nhập khẩu

Chỉ đường pháp lệnh ở hai bên cánh mũi kéo dài đên môi. Trong tướng học cho rằng người có tướng này phần lớn là bị chết đói.

 

Túy nhãn (mắt say)

Chỉ tướng mắt: thần sắc u mê, mệt mỏi như người say rượu. đây là tướng mắt không cát.

 

Tư không

Một trong mười ba bộ vị. Nằm ở dưới thiên đình, phía trên trung chính.

 

Tứ bạch

Chỉ phía bên trên, bên dưới, bên phải và bên trái của đôi mắt đều lộ sắc trắng, chủ về thương tật và chết yểu và cũng là tướng gian dâm.

 

Tứ cường

Chỉ trán, má và hai gò má đầy đặn, rộng.

 

Tứ độc

Tứ độc chỉ sống Trường Giang, sông Hoài, sông Hoàng Hà, sông Tế. Trong tướng học ví với các bộ vị: tai, mắt, miệng, mũi.

 

Tứ phản

Chỉ tai không có vành tai, miệng không có khóe miệng, lỗ mũi hếch, ánh mắt vô thần. Đây là bốn loại tướng xấu.

 

Tứ nhũ

Chỉ người có bốn đầu vú. Đây là dị tướng. “Hoài nam tử - Tu vụ huấn” có viết: Văn Vương có bốn đầu vú, là bậc đại nhân.

 

Tử đình

Nếu bộ vị này sâu và dài thì con cháu đầy nhà,

 

Tử khí thiên la

Một trong mười thiên la. Chỉ sắc mặt u tối, là điềm báo tai ương, bệnh tật.

 

Tự điếu sát

Một trong năm tướng ác sát. “chiếu đảm kinh” nói rằng: mũi gãy, chuẩn đầu vẹo, cổ lệch, mắt không nhìn thẳng là tướng tự điếu sát (tự treo cổ mà chết).

 

Tước hành (đi như chim sẻ)

Khi đi lại, gót chân không chạm đất. Người có tướng này cả đời bôn ba vất vả, không đủ ăn, đủ mặc.

 

Tước phúc (bụng sẻ)

Chỉ bụng nhỏ và gầy. Người có tướng này là người nghèo khổ, nhiều bệnh tật.

 

Tướng ăn (thực tướng)

Chỉ tướng khi ăn uống của con người. dựa vào thực tướng có thể nhận biết được tính cách của con người. lấy thức ăn từ tốn và có trật tự, nhai chậm rãi, động tác khoan thai, tư thế ngồi ngay ngắn, khi ăn không nói chuyện là tướng tốt. Người ăn uống vội vàng dễ béo phì, người ăn uống chậm chạp dễ gầy ốm; người ăn ít mà vẫn béo là người tính tình rộng rãi; người ăn nhiều mà vẫn gầy là người tính tình không ổn định; người ăn uống vội vàng là người hung bạo; người ăn uống nhồm nhoàm là người không hiểu lễ nghĩa, ngược lại là người hiền lành.

 

Tướng bụng

Là tướng của bụng. Quang sát tướng bụng có thể đoán biết giàu nghèo, cũng như tuổi thọ của con người. Bụng tròn và phệ, dày và chắc, có xu hướng chảy xệ xuống dưới; da dày và mịn. Người có da bụng dày ít bệnh tật và giàu có. Người có da bụng mỏng là người hay ốm đau va nghèo khổ. Người có bụng cao thì nghèo khổ và ngu ngốc. Người có bụng bằng phẳng và ngắn thì nghèo đói. Người có bụng như cái bao thì nổi tiếng khắp nơi.

 

Tướng cằm

Cằm còn gọi là địa các, bắc nhạc. Bọ vị này liên quan vận khí những năm cuối đời của con người. người có cằm mỏng và nhọn là người cuối đời sống cô độc, thê lương, nhiều bệnh tật.

 

Tướng chân (túc tướng)

Chỉ tướng của đôi chân. Chân đầy đặn, vuông vắn, dày là tướng tốt. “Luận túc” trong “Thần tướng toàn biên” có viết: chân nên vuông vắn và dài, trơn và mềm, không nên nghiêng lệch và mỏng, to ngang và ngắn, thô và cứng. lòng bàn chân không có đường chỉ là tướng thấp hèn, lòng bàn chân có nốt ruồi đen là quý tướng.

 

Tướng chưởng kim quy bốc (tướng tay bói rùa vàng)

Sách thuật số thời đại. trước đây cho rằng quyển sách này do Quỷ Cốc Tử biên soạn. cách bói là dùng một cọng cỏ đo lần lượt các ngón tay từ đầu đến gốc, ngón cái thì đo đến đường chỉ ở giữa lòng bàn tay và ngắt từng cọng một, xếp thành hình con rùa, dựa vào hình đó để phán đoán về các cách cục; tổng cộng có ba mươi tư bức tranh, xét xem cách cục có toàn vẹn hay không để phán đoán họa phúc của con người.

 

Tướng cổ (hạng tướng)

Chỉ tướng của cổ. Các nhà tướng thuật cho rằng cổ là bộ phận chống đỡ cơ thể, tướng của cổ ảnh hưởng trực tiếp đến phúc thọ, thoái vượng của con người. đặc trưng cụ thể của tướng này là: phần đỡ cái đầu, gác lên tứ chi, cao và thẳng là cổ. Cổ cao, sáng sủa, là tướng địa quý; cổ tròn và đầy đặn, rắn chắc là tướn đại phú; cổ vẹo và nhỏ, min và yếu ớt không có tài trụ cột. Người béo thì cổ nên ngắn, người gày thì cổ nên dài; ngược lại thì là tướng nghèo khổ và chết yểu. hoặc cổ dài như cổ thiên nga hoặc ngắn như cổ chim trĩ, hoặc to như cây đào, hoặc nhỏ như bình rượu đều không phải tướng tốt.

 

Tướng công

Còn gọi là tướng sĩ, chỉ những người làm nghề xem tướng.

 

Tướng cốt sơn nhân

Chỉ những thầy tướng mù mắt, dùng tay sờ để phán đoán vận mệnh.

 

Tướng da và lông

Chỉ thông qua quan sát da và lông để phán đoán trí tuệ, họa phúc của một người. các nhà tướng thuật thời cổ đại cho rằng da và lông có thể phản ánh trí tuệ của con người. người có tướng: cơ nhỏ, da trơn mịn, lông và tóc mềm mượt phần lớn là người thông minh túc trí.

 

Tướng do tâm sinh

Chỉ tâm niệm và tính tình của con người ảnh hưởng trực tiếp đến tướng mặt tức là tướng do tâm sinh ra. Các nhà tướng thuật cho rằng có tâm không có tướng tướng tùy theo tâm mà sinh; có tướng không có tâm, tướng sẽ diệt theo tâm.

 

Tướng đầu

Chỉ hình dạng của xương sọ. Đầu là vị trí cao nhất của cơ thể, là xương quan trọng nhất; xương đầu nhô cao, lồi lên; da dày, trán vuông là tướng tốt; đầu ngắn thì nên dày, đầu dài thì nên vuông đỉnh đầu nhô cao là người cao quý, lõm xuống là người không sống thọ, da mỏng là người nghèo khổ.

 

Tướng đi (hành tướng)

Chỉ tướng đi lại, đi lại thuộc dương, chủ về động. căn cứ theo dáng đi cơ thể phán đoán được tâm tính cũng như vận mệnh của con người.

 

Tướng động tĩnh

Chỉ thông qua quan sát hành động, cử chỉ, lời nói của một người để phán đoán cát hung, họa phúc và tiền đồ của người đó. Động tĩnh, chỉ hành động, lời nói, cách cư xử. Trong tướng học cho rằng thần sắc có sự khác nhau giữa thanh và trọc; thanh và trọc dễ phân biệt, tà và chính khó phân biệt; muốn phân biệt tà và chính, đầu tiên phải quan sát động tĩnh.

 

Tướng đức

Chỉ thông qua quan sát phẩm chất đạo đức của một người để phán đoán họa phúc và vận mệnh của người đó. Các nhà tướng thuật cho rằng người xem tướng giỏi thì đầu tiên phải quan sát đức, sau đó mới quan sát đến hình tướng.

 

Tướng eo

Chỉ tướng của eo lưng, có thể phản ánh vận khí vào thời kỳ trung niên của con người. người khồn có eo là tướng không quý, không có lưng là tướng không giàu. Do đó, eo nên rộng và dày, ngay ngắn và thẳng; eo nghiêng vẹo và lõm, hẹp và mỏng là đó, eo nên rộng dày, ngya ngắn và thẳng; eo nghiêng vẹo và lõm, hẹp và mỏng là tướng ti tiện.

 

Tướng giả

Tức là tướng sĩ, tướng công.

 

Tướng giọng (thanh tướng)

Giọng nói liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tâm thuật của con người. do đó, thanh tướng cũng là một bộ phận rất quan trọng trong tướng thuật. Nếu giọng nói vang như tiếng chuông, khóc to thì tiếng kéo dài, khóc nhỏ thì ngắn, tinh thần bình tĩnh thì hòa, tinh thần phiền muộn thì vội vàng. Người nhỏ giọng nói to là tướng cát, người to giọng nói nhỏ là tướng hung. Đàn ông mà có giọng nói như đàn bà thì cô độc,nghèo khổ; đàn bà mà giọng nói như đàn ông thì gặp tai họa.

 

Tướng hình

Cũng gọi là tướng diện (tướng mặt). Chỉ thông qua quan sát ngoại hình của con người để phán đoán vận mệnh. Hình chỉ sự kết hợ giữa tướng mặt và ngoại hình của con người. tướng học cho rằng, người có cửu cốt đầy đặn, nhô cao là người có quý tướng. “Hậu Hán thư – Quang Vũ đề kỷ” viết rằng Quang Vũ Đế là Lưu Tú: ‘người cao bảy thước ba tấc, lông mày dài, miệng rộng, chuẩn đầu đầy đặn, nhật giác. “Nhật giác là một trong cửu cốt.

 

Tướng khí

Chỉ thông qua quan sát khí của cơ thể phán đoán cát hung, học phúc. Khí là căn bản của hình, quyết định tính cách và tuổi thọ của con người. khí phân thành trong đục, mạnh yếu, dày mỏng, nhanh chậm, động tính. Thông thường, khí thanh chính, khoan hòa, bình ổn là tướng tốt.

 

Tướng khí sắc

Chỉ thông qua quan sát sắc mặt, khí sắc của cơ thể để phán đoán vận mệnh của con người. các nhà tướng thuật cho rằng, khí làm chủ con người, ở bên trong là tinh thần, ở bên ngoài là khí sắc.

 

Tướng lý hành chân

Là sách tướng thuật thời cổ đại. cuốn sách này là một trong những tướng sách tướng thuật rất thịnh hành.

 

Tướng lông mày

Dựa vào tướng của lông mày có thể đoán được vận mệnh cũng như trạng thái cát hung, phúc họa của con người. Hai lông mày được coi là cung bảo thọ, cung huynh đệ; lông mày nhỏ, bằng và to là tướng tốt; lông mày thanh tú và dài là tướng thông minh; lông mày thô và rậm, mọc hỗn loạn, ngắn và nhăn nhúm là tướng ngu si, cố chấp. người có lông mày dài quá mắt là người phú quý; lông mày ngắn hơn mắt là người bất tài; lông mày mọc rậm, gần như che kín mắt là người nghèo khổ; lông mày dựng đứng là người hào phóng; đuôi lông mày rủ xuống là người hèn nhát; lông mày ngắn thưa là người cô độc, nghèo khổ; lông mày giao nhau là người hèn nhát; long mày ngắn, thưa là người cô độc, nghèo khổ; lông mày giao nhau là người có tướng chết yểu; xương lông mày nhô cao là người hung dữ; lông mayg mọc cao, nằm ở giữa trán là tướng đại quý; trong lông mày có sợi lông mọc dài màu trằng là tướng trường thọ; lông mày thưa thớt, gần như không có lông là người gian nịnh.

 

Tướng lưng

Chỉ tướng của phần lưng. Tướng học cho rằng lưng là cột trụ của cơ thể. Lưng đầy đặn, không thô tục, rộng và nhẵn là tướng tốt.

 

Tướng má

Má nên đầy đặn, nhẵn nhụi và sáng sủa, nối liền với cằm; má quá to hoặc quá nhọn đều là tướng xấu.

 

Tướng miệng (khẩu tướng)

Căn cứ vào hình dạng của miệng để phán đoán cát hung, phúc họa, vận thế, tiền đồ. Miệng dùng để nói năng, liên quan đến những chuyện thị phi, là cơ quan phụ trách việc ăn uống, cửa ngoài của trái tim.

 

Tướng mũi

Trong nhân tướng học, mũi được gọi là “cung thẩm biện”, “trung nhạc”, “thổ tinh”, “thổ túc”. Mũi nằm ở chính giữa khuôn mặt. Hình dạng của mũi liên quan trực tiếp đến quý tiện cũng như phúc đức của vận mệnh. Mũi cao, thẳng là tướng tốt; nhọn và nhỏ là xấu. Mũi nhẵn nhụi thì tốt; u ám, nghiêng, vẹo, lõm, gãy thì tai họa liên miên.

 

Tướng mắt

Trong tướng học, đôi mắt có vị trí rất quan trọng. đôi mắt là cửa sooe của tâm hồn, có thể thông qua quan sát đôi mắt để biết được thần khí và tâm tính của con người.

 

Tướng mặt

Trong tướng thuật, việc quan sát tướng của khuôn mặt là rất phổ biến, là một phương pháp quan trọng. Quan sát tướng mặt cần xem xét trên nhiều góc độ rất phức tạp. Thông thường nếu trên mặt có điểm lõm xuống, sắc mặt u tối thì là tướng xấu. nếu sắc mặt trằng như ngọ, đen như sơn, vàng như nghệ, hoặc tím ngắt thì đều là cát tướng.

 

Tướng móng tay (trảo giáp tướng)

Trảo giáp tức móng tay. các nhà tướng thuật cho rằng quan sát móng tay có thể phán đoán được vận mệnh, phúc họa của con người. “Luân trảo” trong “Thần tướng toàn biên” viết rằng: (móng tay) nhỏ và dài là người thông minh; cứng và dày là người sống thọ; móng tay tù và thô là người ngu si; móng tay sứt mẻ là người ốm yếu; móng tay có sắc vàng và bóng sáng chủ về quý; móng tay có sắc đen và mỏng chủ về hèn kém... Móng tay giống như lá đồng là người vinh hoa; móng tay hình bán nguyệt là người vui vẻ; móng tay trông như viên ngói là người khéo léo.

 

Tướng ngồi (tọa tướng)

Chỉ tướng ngồi. Tọa tướng đối lập với hành tướng; tọa thuộc hành Âm, chủ về tĩnh. “Tướng tọa” trong “thần tướng toàn biên” có viết: ngồi yên không động đậy là đức của dáng ngồi. Ngồi rung đùi là tướng tài sản phá tán. Ngồi quay ngang quay ngửa, người ngồi như con chó, không đoan chính; là tướng khinh bạc, cuồng ngọa, tham lam, thô bỉ; tướng mạo không nghiêm chỉnh, hành động không cẩn trọng.

 

Tướng ngủ (ngọa tướng)

Chỉ tướng lúc ngủ. trong tướng học cho rằng tướng lúc ngủ cũng phản ánh quý tiện, phúc họa của con người. Quyển thứ năm trong “Thần tướng toàn biên” – “Luận ngọa” có viết: Ngọa, là khi nghỉ ngơi, nên yên tĩnh, không hoạt động, là người phúc thọ. Người khó ngủ là người nghèo khổ; người dễ ngủ là cát thọ; người hay trăn trở, chuyển mình khi ngủ là người tính tình không ổn định; người ngủ ít thì thần trí  minh mẫn,người ngủ nhiều thì thần trí u mê. Người ngủ dễ thức giấc là người thông minh, nhạy cảm; người ngủ khó thức giấc là người ngu si; người khi ngủ thở nhịp nhàng đều đặn là người sống thọ, người thở ra nhiều, hít vào ít là người đoản mệnh.

 

Tướng ngực

Chỉ tướng của phần ngực. Các nhà tướng thuật cho rằng ngực là cung đình của khí huyết. Ngực bằng và dài, rộng và dày dặn là tướng tốt; ngực nhô cao và ngắn, hẹp và lép là tướng thần lộ, nghèo hèn. Ngực che kín người là tướng phú quý; ngực ngắn hơn mặt là tướng nghèo hèn; ngực nhô cao là tướng ngu si; ngực vẹo là tướng nghèo khổ; ngực bằng và rộng là tướng anh hùng; ngực nhỏ là tướng ngu đần; xương ngực nhô cao là tướng nghèo khổ, bệnh tật, ngực lóm xuống như cái máng là tướng nghèo khổ, vất vả; ngực rộng và dài là tướng dễ tích của, nhanh giàu; ngực lép và ngắn là tướng mưu đồ khó thành công.

 

Tướng nhân thuật (thuật xem tướng)

Căn cứ vào tướng mặt của con người để phán đoán cát hung, phúc họa, tiền đồ và vận thế. Cuốn “Nhân luân đại thống ký” do Trương Hành GIản biên soạn được coi là điển tịch kinh điển của bộ môn tướng học.

 

Tướng nhìn (thị tướng)

Chỉ thần thái khi quan sát sự vật của con người. có thể dựa vào thị tướng để phán đoán tâm trí của một người. Các nhà tướng thuật hậu thế đều rất coi trọng thị tướng. thông thường, người có ánh mắt nhìn hướng lên trên là người cao quý, người có ánh mắt nhìn xuống dưới là người thâm độc, người có ánh mắt nhìn hướng ra xa là người tài giỏi, người có ánh mắt nhìn gần là người bất tài, người có ánh mắt nhìn tầm trung bình là người tài giỏi, người có ánh mắt nhìn gần là người bất tài, người có ánh mắt nhìn ở tầm trung bình là người có đức, người có ánh mắt nhìn nghiêng, lệch có tướng trộm cướp, người có ánh nhìn hỗn loạn là người dâm tà.

 

Tướng nốt ruồi

Nốt ruồi bao gồm nốt ruồi đen và nốt ruồi son. Nốt ruồi của con người cũng giống như cây cỏ trên núi, đồi núi dưới đất. Ngọn núi đẹp thì sinh ra cây cỏ đẹp, địa thế xấu thì sinh ra đồi núi xấu. Người có phẩm chất tốt thì nốt ruồi trên người cũng nhờ thế mà tướng thuật thường căn cứ vào vị trí nốt ruồi, số lượng và màu sắc của nốt ruồi để phán đoán tình trạng cát hung, quý tiện của con người. thông thường, nốt ruồi mọc ở những chỗ dễ nhìn thấy là điềm hung, ở những chỗ kín là điềm cát. Nếu nốt ruồi màu đen như sơn hoặc đỏ như son thì tốt. Nốt ruồi màu đỏ sẫm chủ về tranh cãi thị phi. Nốt ruồi ngả màu trắng chủ về buồn phiền, tai nạn. nốt ruồi màu vàng chủ về lưu lạc, hất tán.

 

Tướng pháp

Tức thuật xem tướng

 

Tướng quân cốt

Một trong cửu cốt, chỉ phần nhô cao được tạo thành bởi xương lông mày và ấn đường. tướng xương này là quý tướng.

 

Tướng răng

Quan sát tướng răng có thể phán đoán được tình hình sức khỏe và tuổi thọ của người. Rằng to, dày, mọc thẳng, số lượng nhiều, có màu trắng thì tốt. Người có hàm răng chắc khỏe, mọc dày, khít nhau là người sống thọ; người có hàm răng mọc không theo trật tự là người giảo hoạt; người có răng lộ ra ngoài không sống thọ; người có hàm răng thưa thớt là người ngu đần; người có hàm răng khô là người ốm yếu; người nói chuyện mà không để lộ răng là người quý tướng; lúc khỏe mạnh mà bị rụng răng là người đoản mệnh.

 

Tướng râu (tư nhiêm tướng)

Chỉ tướng của râu. Râu mọc ở phía trên môi gọi là tư, râu mọc trên cằm gọi là nhiêm, mọc ở dưới cằm gọi là tu; râu gọi là chung là tư nghiêm hay tư tu. Râu có thể phán đoán ánh ý chí và tính cách của người đàn ông, nên có thể căn cứ vào râu để phán đoán trạng thái quý tiện, hiền ngu. Râu màu đen và đẹp đẽ là tướng phú quý; râu mềm mượt là tướng phúc thọ; râu khô cứng là người trì trệ; người có râu mọc dựng đứng là người cương trực nhưng không giữ được tiền của; người có râu mềm mại là người tính nhu hòa; người có râu màu đỏ là người cô khắc; người có râu, tóc xoăn là người khốn khổ.

 

Tướng sắc

Chỉ thông qua quan sát khí sắc của khuôn mặt và hình thể phán đoán cát hung, họa phúc cảu con người. Có cách nói khác chỉ việc quan sát thần sắc, thần trí. Thần sắc phản ảnh nội tâm của con người. Quan sát thần sắc của một người có thể thấu hiểu được trạng thái nội tâm của người đó.

 

Tướng sĩ

Giống tướng công

 

Tướng tai

Còn gọi là thái thính quan, là thông minh bộ học đường. Tai thông với tim và thận; tướng tai cũng có liên quan đến vận mệnh, phúc họa; chủ về tim và thận; do khí cảu thận tốt nên tai có sắc xanh và thính; khí của thận hư thì tai có sắc u tối và người không thính. Tai cũng chủ về danh dự và phẩm hạnh. Người có tai dày và chắc chắn sẽ sống thọ. Người có đỉnh cao hơn lông mày sẽ sống thọ; người có vành tai rõ ràng là người thông minh. Người có dái tai hướng về phía miệng là người có tài, sống thọ. Người có tai  áp sát vào đầu là người giàu có. Người trong tai có lông, nhĩ môn rộng là người hay suy nghĩ sâu xa. Người có tai cứng, dù gặp nguy hiểm đến tính mạng cũng khong hề hoảng sợ. Tai mỏng như tờ giấy là người bần tiện, chết sớm. người có tai nghiêng, lệch là người không có nhà cửa.

 

Tướng tay (thủ tướng)

Chỉ tướng của tay, bao gồm hình dạng và đương chỉ tay. xem tướng tay cũng có thể phán đoán được cát hung, họa phúc và tiền đồ của con người.

 

Tướng tâm

Chỉ thông qua quan sát tâm thuật để phán đoán vận mệnh của con người. người thời xưa cho rằng, tướng tâm có thể đến mệnh tướng của con người. Tướng do tâm sinh ra; do đó, các nhà tướng thuật cho rằng xem tướng mạo không bằng xem tướng tâm. Người có tấm lòng rộng rãi, khoaan dung là tốt.

 

Tướng thần

Chỉ việc quan sát thần tính để phán đoán cát hung, họa phúc và tiền đồ của con người. thần chỉ thần tình, là biểu hiện tổng hợp của tính cách, ý chí, sự tu dưỡng nội tâm của con người. Và mắt là cung thần du, quan sát thần tình cũng tức là quan sát nhãn thần. Các nhà tướng thuật cho rằng, thần nên thanh khiết và an hòa, không nên vẫn đục, nên ẩn không nên lộ.

 

Tướng thịt

Chỉ hình thái của cơ, thit trên khuôn mặt cũng như trên cơ thể con người. “Tướng nhục” trong “Thần tướng toàn biên” viết: béo không được thừa thịt, gầy không được thiếu thịt... thẳng mà săn chắc, thảng mà nhô cao... béo phì, mắc bệnh suyễn là sắp chết. Thịt không nên ngang, ngang thì tính cương mà bạo; thịt không nên lỏng lẻo, lỏng lẻo thì tính nhu mà hèn. Người béo, thịt có nhiều nếp nhăn hỗn loạn, người có nhiều nếp nhăn thô, hỗn loạn là tướng sắp chết. Thịt nên thơm và ấm, màu sắc nên trắng và mọn, da nên trơn và nhẵn; màu hôn ám và khô, da đen và hôi không phải là tướng tốt. Gân không giữ được xương, thịt bám vào cơ thể, da chùng nhão là tướng sắp chết.

 

Tướng tình thái

Chỉ thông qua quan sát tình cảm, trạng thái của con người để phán đoán cát hung, họa phúc. Tình thái có thể phán ánh khí chất, tính tình của con người. tình thái có nhược thái (mệt mỏi), cuồng thái (điên cuồng), có sơ lãn thái (lười nhác), có chu toàn thái (chu toàn). Đứng ngồi tự nhiên, hỏi đáp tùy ý là lãn thái. Che giấu ý đồ, nói cười tự nhiên, quan sát nét mặt lời nói, tìm cát tránh hung,là chu toàn thái.

 

Tướng thuật

Chỉ thông qua quan sát hình dạng, tướng mạo và khí sắc để phán đoán tiền đồ và vận mệnh của con người.

 

Tướng tóc

Chỉ hình dạng của tóc. Trong tướng học cho rằng sợi tóc nhỏ và dày, ngắn và mượt, đen bóng, đẹp và thơm thì tốt. Người có tóc màu vàng hoe hay gặp hung họa. Người có tóc màu đỏ gặp nhiều tai họa. Người có tóc thô, cứng là người cương trực nhưng cô độc. Tóc dày nhưng có mùi hôi là người trì trệ và nghèo hèn. Người có mái tóc rối, bù xù là người tính tình giảo hoạt và nghèo khổ. Người có đường chân tóc thấp là người nghèo hèn. Người có đường chân tóc cao là người tính tình hiền hòa. Người mày mọc không theo trật tự, hay gặp tai họa. Tóc thô cứng và thưa thớt, tiền của dư giả. Tóc khô hay ưu tư, buồn phiền.

 

Tướng trán

Chỉ hình dạng của trán. Tướng trán liên quan đến sự vinh , suy, cát, hung, hiền ngu, quý, tiện của con người. trán đấy đặn, sáng sủa là tướng tốt. Trán vuông và rộng là người phú quý; người có xương trán nghiêng dốc, thưở nhỏ gặp nhiều vận xấu.

 

Tướng tùy tâm tiện

Chỉ cát hung của tướng mặt căn cứ theo tâm niệm thiện, ác của con người mà bị giải trừ. Các nhà tướng thuật cho rằng, tướng mặt của con người không phải nhất thành bất biến mà thay đổi theo sự thay đổi của tâm tính của con người.

 

Tướng sư

Chỉ chức quan chuyên về việc xem tướng thời cổ đại.

 

Tướng văn ngấn

Chỉ thông qua quan sát các nếp nhăn, đường chỉ trên mặt và tay, chân để phán đoán vận mệnh của con người. các đường chỉ tay thông suốt, không hỗn loạn, không xâm phạm với nhau là tướng tốt.

 

Tướng vú (nhũ tướng)

Chỉ hình dạng của hai bên vú. Các nhà tướng thuật cho rằng vú nên tròn, có màu tím hồng và xệ xuống thì tốt, không nên nhỏ, hẹp, có màu trắng nhợt. “Thái thanh thần giám” nói rằng: người có đầu vú nhỏ không con cái, không tài sản, người có đầu vú trắng, nhỏ là người tuyệt tự, tuyệt quý.

 

Tượng hình (hình voi)

Là một loại tướng “ người có hình dạng giống với cầm thú”. Đặc trưng của loại tướng này là: thiên trung, thiên đường nhô lên, ấn đường bằng phẳng, lông mày nhỏ mắt dài. Mũi hếch, răng lộ ra ngoài, thân hình to lớn, ít ngủ. người có tướng này đa phúc đa thọ, quan vận thông suốt, có thể làm chức vị cao.

 

Tửu thực thiên la

 Một trong mười thiên la. Chỉ sắc mặt trắng bóng, giống như bôi mỡ. đây là sắc mặt xấu.

 

Uy tướng

Chỉ tướng mạo uy nghiêm

 

Uyên hải Tử Bình

Đây là một bộ sách lớn đầu tiên luận về mệnh lý Tứ trụ một cách tương đối hành chỉnh, hệ thống, do Từ Thăng Cân thời Tống ghi chép lạo theo những phương pháp luận về vận mệnh của Từ Tử Bình – đại tông sư mệnh ly học đương thời. có thể nói răng “Uyên hải tử bình” là tác phẩm đặt nền móng cho mệnh lý học Tứ trụ; do đó, mệnh lý Tứ trụ được gọi  “Tử Bình bát tự”. Trong cuốn sách nhiều lần nhắc đế tư tưởng “linh hoạt, khéo léo luận tướng mệnh” phù hợp với quy luật biện chứng và quy luật của tự nhiên, được xưng tụng là “tất cả mọi thuyết của các nhà tướng thuật đời sau đều không vượt qua phạm vi cuốn sách này, chỉ như bóng trăng in dưới mặt hồ, chỉ là đồ bỏ đi”.

 

Ưng thị

Chỉ đôi mắt giống như chim ưng. Người có tướng này là người hung bạo, tham lam, có thể cùng chung hoạn nạn nhưng không cùng chung hưởng phú quý.

 

Ưu trệ thiên la

Một trong mười thiên la, chỉ sắc xanh bao trùm khuôn mặt. Đây là tướng xấu.

 

Vận khí lưu niên

Chỉ vận thế hàng năm của con người. các nhà tướng thuật cho rằng có thể căn cứ vào chín mươi boojvij trên khuôn mặt để phán đoán vận khí lưu niên, mỗi một bộ vị chủ về vận khí của một năm.

 

Viên Củng

Nhà tướng thuật thời mInh, tự la Diên Ngọc, người huyện Ngân (thnahf phố Ninh Ba tỉnh Chiết Giang ngày nay), bản tính khác thường, hiếu học, có thể làm thơ; từng đi qua Lạc Gia Sơn, gặp một nhà sư kỳ lạ Bệt Cổ Nhai, được người này dạy cho thuật nhân tướng, phương pháp của thuật này là trong đêm tối đốt hai ngọn đuốc lớn để nhìn hình trạng và khí sắc của con người và dựa thêm vào ngày tháng năm sinh để đoán định vận mệnh. Truyền thuyết nói rằng Viên Củng chỉ cần xem tướng là biết được tâm thuật của con người, thường giúp cho người khác sửa chữa tật xấu nên có rất nhiều người được ông cảm hóa. Viên Củng là người hiếu thảo, hòa hữu và đôn hậu; ông sống ở phía tây thành Ngân, xung quanh nhà trồng cây liễu nên tự gọi là LIễu Trang cư sĩ; ông có viết cuốn “Liễu Trang tập”.

 

Viên hình (hình vượn)

Là một loại tướng “người có hình dáng giống như cầm thú”, chỉ tướng: mặt nhỏ, mắt tròn, tai nhọn, tay dài. Người có tướng này là người trường thọ.

 

Viên Khách Sư

Tướng sĩ thời Đường, là con trai của Viên Thiên Cương, kế tục đưuọc nghề của cha, giỏi về đoán đồ vật trong hòm kín.

 

Viên Thiên Cương

Một tướng sĩ thời so Đường, người Thành Đô Ích Châu ( ngày nay là thành phố Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên), rất giỏi về tướng thuật, đoán đâu trúng đó, vô cùng linh nghiệm; từng làm quan cho nhà Tùy, làm chức Diêm quan lệnh. Thời Đường, ông làm chức Hỏa sơn lệnh. Tác phẩm nổi tiếng có “Lục Nhâm khóa”, “Ngũ hành tướng thư”, Suy bối đồ”, “Viên Thiên Cương xưng cốt ca”, trong đó “Dịch kinh huyền yếu” đã thất truyền.

 

Viên Trung Triệt

Tướng sĩ thời Minh, là con trai của Viên Cũng, tự là Tĩnh Tư,ngay từ khi còn ít tuổi đã kế tục được nghề của cha, tính tình nham hiểm.

 

Vong sát

Một trong năm ác sát. Chỉ tướng trong mắt có tia máu đỏ, mắt lộ hung quang.

 

Vọng đao nhãn

Cũng gọi là phán đao, miện đao nhãn. Chỉ tướng đầu cúi thấp, mắt nhìn xuống dưới.

 

Vọng dương

Chỉ dáng đang hướng mắt nhìn ra xa. Người có tướng này là người có chí lớn.

 

Vụ hung sài thanh (ngực cò tiếng sói)

Chỉ ngực nhô cao như ức con cò, giọng nói như tiến chó soi tru. Đây là tướng hung bạo, cô độc.

 

Xà hành (đi như rắn)

Khi đi lại, đầu và chân cũng chuyển động tạo thành ba khúc. Người có tướng này là lòng dạ độc ác, vô phúc vô thọ.

 

Xà hình (hình rắn)

Là một loại tướng “người có hình dạng giống cầm thú”, chỉ tướng: mặt dìa miệng rộng, ngũ quan không ngay ngắn, đi lạo ẻo lả, đầu ngửa lên trên, ngực cao. Tướng mạo cụ thể của người xà hình: mặt dài; ngũ nhạc không cân đối, trán hẹp; mắt dài va khồn có khóe, tròng đen ít, tròng trắng nhiều; da có sắc xanh; miệng rộng, môi dài, nhọn và cong như lưỡi liềm, có sắc xanh, răng nhỏ, thưa, trắng, miệng rộng, môi dưới nhỏ; mũi nhỏ, dài, nhọn; dáng đi ẻo lả; đầu ngửa lên trên, ngực cao; người mang tướng xà hình là người chết không yên ổn.

 

Xem chỉ tay

Chỉ thôn qua quan sát đường chỉ tay đẻ phán đoán vận mệnh và họa phúc của con người. vai trò của đường chỉ tay với con người cũng giống như vai trò của vân gỗ với cây; quan sát đường chỉ tay có thể biết được tài năng khí chất của con người.

 

Xích mạch càn đồng

Cũng gọi là xích mạch quán đồng. chỉ những tia máu nhỏ trong mắt lan tới tận đồng tử. Đây là điềm hung

 

Xích mạch quán tinh (mạch đỏ xuyên con ngươi)

Tức là đồng tử có tia máu đỏ.

 

Xúc xương

Xương chỉ sông mũi. Xúc xương chỉ nếp nhăn ở đầu lông mày. Chỉ đầu lông mày nhíu, nhăn.

 

Xương chẩm

Còn gọi là “ngọc chẩm”, chỉ xương ở sau đầu. “Chẩm cốt bộ tướng” trong “thần tướng toàn biên” có viết: những người có tướng trán và đầu khác người đều thể hiện ở tướng của xương chẩm. Người có xương chẩm giống như trong núi có ngọc, biển có ngọc trai. Phần phía sau đầu gọi là tinh đài, nếu có xương nhô lên thì gọi là xương chẩm; xương chẩm nhô cao là tướng phú quý, xương chẩm lõm xuống là tướng nghèo hèn.

 

Xương dịch mã

Chỉ xương gò má kéo dài đến gần chân tóc mai. Đây là tướng đại quý. Nếu xương dịch mã cứng chắc, sâu  thì càng tốt.

 

Xương đơn têu

Chỉ xương kéo dài từ đỉnh đầu đến ấn đường.

 

Xương long cung

Chỉ xương vành mắt nhô cao lên thành hình tròn. Đây là quý tướng.

 

Xương long giác

Còn gọi là xương phụ giác. Xương này do xương lông mày nhô cao, kéo dài đến đường chân tóc tạo thành. Xương này phát triển là quý tướng.

 

Xương phù tang

Chỉ xương ở huyệt thái dương. Xương này đầy đặn thì tốt. Phần “Tướng đầu” tron “thần tướng toàn biên” có viết: ở huyệt thái dương có xương gọi là xương phù tang, chủ về phú quý.

 

Yến hạc cốt

Chỉ tướng xương của người cao quý, thường là tướng của người tu đạo.

 

Yển nguyệt chi thế

Chỉ trán có phần gồ lên, giống như trăng khuyết. Đây là quý tướng.

 

Yểu tướng

Chỉ tướng đoản mệnh.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa
Xem tuong mat xem tuong mat online huong dan xem tuong mat online cach xem tuong mat