Tục lên núi cao vào ngày tết trùng cửu mồng 9 tháng 9

Chủ nhật , 20/03/2016, 04:04 GMT+7
     

I. Nguồn gốc của Tết Trùng Cửu 

Có nhiều điển tích về ngày Tết này:

+ Tương truyền, Trùng dương đăng cao khởi nguồn từ thời Đông Hán. Thời này, huyện Nhữ Nam phát sinh ôn dịch, có một người tên là Hoàn Cảnh nhiễm bệnh, cha mẹ anh ta cùng nhiễm bệnh này mà qua đời. Sau đó tiên nhân còn đưa một bao lá thù du, một bình rượu hoa cúc, cho phép Hoàn Cảnh dẫn người trong vùng lên núi tránh nạn.

Ngày 9 tháng 9, Hoàn Cảnh dẫn vợ con và người trong vùng lên núi cao, sau đó chia lá thù du cho mọi người để tránh yêu dịch đến gần. Sau đó rót rượu hoa cúc mời uống để phòng cảm nhiễm. Hoàn Cảnh cso trận chiến đầu với yêu dịch, cuối cùng dành chiến thắng.

Lưu truyền chuyện ngày 9 tháng tháng 9 lên núi cao tránh nạn, Hoàn Cảnh dùng kiếm giết yêu dịch, đây cũng là nguyên nhân phong tục này xuất hiện. Trong bộ Tay kinh tạp ký, cung nhân Cổ Bội Lan thời Tây Hán từng nói: “Ngày 9 tháng 9, đeo là thù du, ăn bánh ngọt, uống rượu hoa cúc, có thể được trường thọ”. Đến thời Đường, tết Trùng dương chính thức được coi là một ngày tết truyền thống trong dân gian, trải qua các thời đại đến ngày hôm nay. Bài thơ thât luật Đăng cao của Đỗ Phủ chính là viết về ngày này.

Tết Trùng Dương lên núi cao, không có yêu cầu chính xác, thường lên núi cao, tháp cao. Mục đích chính là trời thu thời tết mát mẻ, tháp cao. Mục đích chính là trời thu thời tiết mát mẻ, trong lành, lên núi phóng tầm mắt, khiến tinh thần thư thái, khỏe mạnh và tránh bệnh tật.

+ Phong tục tập quán này bắt nguồn từ đời Hán. Ngô Quân thời Nam Triều trong “Tục Tề hài ký ‘’ có chép một câu chuyện: “Đời Hậu Hán (25-250) có Hoàng Cảnh, người huyện Nhữ Nam, theo học đạo tiên với Phí Trường Phòng. Một hôm Trường Phòng bảo Cảnh: ” Ngày mồng 9 tháng 9 tới đây, gia đình của nhà ngươi gặp phải tai nạn. Vậy đến ngày đó, ngươi nên đem cả nhà lên núi cao, tay đeo túi đỏ, đựng hột thù du (một loại tiêu), uống rượu hoa cúc, tối sẽ trở về, may ra tránh khỏi tai nạn”. Hoàng Cảnh vâng theo lời thầy. Quả thực đến tối trở về thì thấy gà vịt heo chó trong nhà bị dịch chết hết.
Vì tích trên, nên về sau hằng năm, đến ngày mồng 9 tháng 9 ÂL theo lịch âm dương, người ta bỏ nhà tạm lên núi, lánh nạn… Lâu đời thành tục gọi là Tết Trùng Cửu. Sau dần thay đổi tính chất, Tết Trùng Cửu lại dành riêng cho tao nhân mặc khách lên núi uống rượu làm thơ.
 
+ Sách “Phong Thổ Ký” lại chép: Cuối đời nhà Hạ (2205-1818 trước D.L.), vua Kiệt dâm bạo tàn ác, Thượng Đế muốn răn nhà vua nên giáng một trận thủy tai làm nhà cửa khắp nơi bị chìm xuống biển nước, nhân dân chết đuối, thây nổi đầy sông. Nạn thủy tai đó nhằm ngày mồng 9 tháng 9. Vì vậy mỗi năm đến ngày này, nhân dân lo sợ, già trẻ gái trai đều đua nhau quảy thực phẩm lên núi cao để lánh nạn… Tục ấy thành lệ.
 
+ Đến đời Hán Văn Đế (176-156 trước D.L.), vua cho dựng một đài cao 30 trượng ở trong cung, mỗi năm đến ngày mồng 9 tháng 9, nhà vua cùng vương hậu, vương tử, cung phi đem nhau lên đài ở cho qua hết ngày ấy. Sau đến đời nhà Đường (618-907) xem ngày mồng 9 tháng 9 thành ngày lễ tết gọi là Trùng Cửu. Các văn nhân thi sĩ mang bầu rượu túi thơ cùng nhau lên núi cao say sưa ngâm vịnh.

II. Các phong tục tập quán trong ngày Tết Trùng Cửu (Tết Trùng Dương)

 
1. Lên vùng cao
 
 Nhân dịp tết Trùng Cửu, nhiều người thường đến vùng ngoại thành để leo núi, thưởng ngoạn phong cảnh, hít thở bầu không khí trong lành.
 
Người ta rủ nhau lên núi cao hay thấp cao, chỗ cao, tùy điều kiện sẵn có từng nơi để thưởng ngoạn phong cảnh , nhớ lại thời cổ đại đã từng phải “lên cao lánh nạn”. Ăn bánh “cao 糕” cũng để nhắc nhớ thời phải lánh lên cao, do lấy chữ đồng âm là “cao”. Bánh cao làm bằng bột gạo xay nước ngào đường đỏ hấp chín đổ thành 9 tầng như bảo tháp, tượng trưng cho đỉnh cao và số 9, bên trên còn nặn hình hai con dê nhỏ tượng trưng trùng dương, lại cắm trên đó một ngọn đèn nến tượng trưng đăng cao là trèo lên cao, và cắm một ngọn cờ giấy nhỏ màu đỏ tượng trưng cho cài lá châu du 茱 萸. Đó là cách làm thời cận đại ở vùng Phúc Kiến.
 
2. Ngắm hoa cúc và uống rượu hoa cúc
 
Nguồn gốc, Phong tục và Ý nghĩa của ngày Tết Trùng Cửu

Phong tục ngắm hoa cúc vào tết Trung dương có thể truy nguyên vào thời Tam quốc Ngụy Tấn. Trọng văn hóa của người Hán, hoa cúc tượng trưng trường thọ, ngắm hoa cúc ngụ ý mong trường thọ. Huyện Tây hương tỉnh Thiểm Tây – Trung quốc, có tục tặng bánh hoa cúc và rượu hoa cúc vào ngày này. Sau khi ăn tối xong, mọi người ra khỏi nhà, lên ngọn núi gần nhất, đốt lửa, đam thiên thuyết địa đến lúc gà gáy mới về. Lên núi trong đêm, nhiều người hái vài bông cúc dại, về nhà cài lên đầu trẻ nhỏ đế tránh tà ma.

Rượu hoa cúc, thời cổ được coi là thứ rượu cần có trong tết Trùng dương, được coi là “rượu cát tường” có tác dụng tránh họa mang lại phúc lành. Rượu này có từ đời Hàn. Thời Ngụy, Tào Phi từng tặng rượu hoa cúc cho Chung Diêu, chúc Chung Diêu trường thọ. Cát Hồng đời Tấn trong Bảo phác tử có chếp truyện những người trong núi Nam Dương – Hà Nam vì uống trong cốc Cam nơi mọc nhiều hoa cúc mà được mạnh khỏe, trường thọ. Đến đời Minh Thanh, rượu hoa cúc vẫn thịnh hành.

Tuy câu chuyện Hoàng Cảnh đại chiến Ôn Thần chỉ là truyền thuyết nhưng việc đeo túi thơm đựng hạt thù du phòng ngừa bệnh dịch lại mang yếu tố khoa học. Ngày Trùng Cửu diễn ra vào lúc giao mùa từ mùa thu sang mùa đông. Đây cũng là thời gian xuất hiện nhiều muỗi gây bệnh truyền nhiễm. Thù du là một loại thảo dược có độc tính nhẹ, có mùi vị nồng, có thể dùng để xua đuổi côn trùng. Cho hạt thù du vào trong túi thơm hoặc cho vào trái hồ lô có khoan nhiều lỗ nhỏ để mùi của hạt lan tỏa trong không khí, tiêu diệt côn trùng. Kỹ thuật may túi thơm và chế tác hồ lô đựng hạt thù du vẫn tồn tại đến nay, tập tục đeo túi thơm đựng hạt thù du cũng còn được giữ gìn ở một số nơi.
 
Theo danh y đời nhà Minh tên Lý Thời Trân, hoa cúc có công dụng chữa trị nhiều bệnh như đau mắt, chóng mặt, nhức đầu, giải phong nhiệt. Rượu hoa cúc có thể giúp tránh bị trúng gió, khử nhiệt, bổ gan sáng mắt, tiêu viêm giải độc. Rượu hoa cúc có vị đắng, người xưa cho rằng, uống loại rượu này sẽ thêm tuổi thọ nên họ gọi đây là ‘rượu trường thọ’.
 
Ngoài uống rượu hoa cúc, ngắm nhìn hoa cúc là một trong những phong tục của tết Trùng Cửu. Hoa cúc được xem là loài hoa tượng trưng cho sự cao thượng, đại diện cho tình bạn và nét nho nhã của danh sĩ. Cúc được xem là một trong bốn loài hoa quân tử: Mai - Lan - Cúc - Trúc.
 
3. Cài lá Thù du
 
Thời cổ vào ngày tết Trùng dương còn có tập tục đeo lá thù du. Dân gian cho rằng, đeo cành thù du tránh dữ được lành, thù du còn được gọi là “ông tránh tà”, bởi mùi thơm nồng, có tác dụng xua đuổi côn trùng, khử thấp, phục phong tà, đồng thời có tác dụng tiêu tích thực trị hàn nhiệt.
 
Phong tục này rất phổ biến thời Đường, hoặc giắt vào người hoặc bỏ vào túi vải đeo theo người để trừ tà, nhất là phụ nữ và trẻ em. Trái cây thù du là một vị thuốc, chất lượng tốt nhất là vùng đất Ngô tức vùng Giang, Triết ngày nay nên còn gọi là Ngô thù du, lại cũng còn gọi là cây dầu Việt , là loại cây nhỏ, cao hơn một trượng, lá như cái lông vũ, mùa hè nở hoa trắng, quả đặc có cơm béo ngậy màu vàng, quả sau thu thì chín màu tím đỏ, sách “ Bản thảo cương mục” nói cơm quả vị đắng cay mà thơm, tính ôn nhiệt, có thể trị hàn khu độc, người xưa quan niệm giắt lá nó vào người để trừ tà. Phong tục này học giả Chu Sở đầu thời Tấn viết trong “Phong thổ ký” là một phong tục của người Giang Nam.
 
Thời kỳ Lý – Trần, nho sĩ Việt Nam cũng tổ chức leo núi, uống rượu hoa cúc gọi là thưởng tết Trùng Dương. Bây giờ ít có nơi tổ chức tết trùng cửu.
 
“Năm ngoái giữa rừng không có lịch
Nhìn hoa cúc nở biết trùng dương”
 
Câu thơ trên là của một Vị thiền tăng nổi tiếng của Việt Nam, gắn liền với một ngọn núi – núi Yên Tử – nơi phát tích một dòng thiền của Việt Nam – dòng thiền Trúc Lâm nổi tiếng với tứ quý ” Tùng, Cúc, Trúc, Mai “.
 
III. Ý nghĩa của ngày Tết Trùng Cửu trong cuộc sống hàng ngày
 
Cổ thi có câu: "Gặp ngày Trùng Cửu đăng cao". "Đăng cao" là lên chỗ cao. "Trùng cửu" và "Đăng cao" đều do điển tích trên.
 
Nhưng truyền thuyết thì cuối cùng cũng chỉ là truyền thuyết mà thôi. Các nhà nghiên cứu phong thủy cho rằng những câu truyện truyền thuyết của nguồn gốc các phong tục tập quán dân gian loại này, phần lớn đều có sau các phong tục dân gian. Người ta không hiểu những phong tục này vì sao lại sinh ra và lưu hành, nên mới dựng ra một câu chuyện để giải thích hoặc để kèm theo sau khi câu chuyện lưu truyền, và có ảnh hưởng rộng rãi trong dân gian. Trải qua một thời gian dài, người đời sau không tra lại, thế là giả thiết biến thành thật.
 
Kỳ thực: Tết Trùng Dương uống rượu cúc hoa, đeo cành thù du cũng có tác dụng giống như Tết Đoan Ngọ uống rượu hùng hoàng và treo cành xương bồ, trần ngải. Mục đích là phòng trừ bệnh tật, côn trùng. Sau ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, thời tiết có thời gian ngắn ấm lại. Trong thời gian trước Tết Trùng Cửu mưa thu lất phất, trời âm u, cái nóng vẫn chưa hết, mọi vật dễ trúng độc, con người vào lúc chuyển mùa dễ sinh bệnh tật, cảm cúm. Vì thế, vào thời gian này phải hết sức chú ý phòng côn trùng, phòng nóng lạnh. Mà rượu cúc hoa có tác dụng bình can( gan ), sáng mắt, giải nhiệt, tiêu độc, giải cảm. Mùi của cây Thù Du có tính cay nóng, đắng, hương thơm, có thể đuổi muỗi, sát trùng trị hàn ( lạnh ) , khử độc . Cả hai thứ ấy đều có những tác dụng này. Qua đó có thể thấy, vào tiết này, đeo thù du, uống rượu cúc hoa rất có lợi cho sức khỏe con người, chính là tác dụng quan trọng của cúc hoa và thù du đối với con người vào mùa thu.
 
Còn Việc trèo lên núi cao trong tiết Trùng Dương, vào tiết trời thu, trời xanh cao, lên núi đi chơi, có thể khiến tinh thần sảng khoái, trong lòng thư thái. Dân chúng lên núi còn có nguyên nhân về mặt kinh tế. Đó là tết Trùng Dương là lúc thu hoạch mùa màng xong xuôi, nông dân nhàn nhã. Lúc này cây thuốc hoa quả trên núi cũng bắt đầu già, chín, chính là dịp tốt để người ta thu hái. Phong tục dân gian lên núi vào những ngày dịp này cũng bắt nguồn từ đây. Còn tập trung vào một ngày tết Trùng Dương cũng có nguyên nhân của nó. Số 9 thời cổ đại là số dương. Cổ nhân cho rằng, vào ngày mồng 9 tháng 9, thì tháng cũng là 9, ngày cũng là 9, hai cái trùng nhau, là ngày lành, ngày tốt, cho nên cùng tập trung lên núi vào ngày này là nhằm ý nghĩa ngày lành, ngày đẹp mà thôi.
Tiết Trùng cửu cây thù du cho những chùm quả đỏ, còn mùa xuân hoa thù du nở vàng rực rỡ khắp cành. Tiết xuân đến hoa thù du nở sớm nhất, có lẽ chỉ sau hàn mai, vốn nở từ lúc cuối đông. Người Nhật còn gọi hoa thù du là hoa hoàng kim của mùa xuân ("xuân hoàng kim hoa", "hoàng" là màu vàng, "kim" là vàng). Hoa mai báo tin xuân sắp tới, thù du cho biết mùa xuân đã tới rồi.Tên khoa học của cây là Cornus officinalis, tên đầy đủ là sơn thù du.

IV. Tết trùng dương ẩn chứa những văn hóa thọ nào?

Ngày tết ở Trung Quốc phong phú, tết trùng dương là ngày tết ý nghĩa kính lão và cầu thọ. Tết trùng dương bắt nguồn từ thời kỳ Tiên Tần, Kinh dịch viết: “Hào dương là cửu”, cho nên 2 hào cửu được định nghĩa là trùng dương.

Ngày tết trùng cửu có các phong tục chơi trên đài cao, thưởng ngắm hoa cúc uống rượu, đeo cỏ thù dư, ăn bánh ngọt, thả, hấp bánh. Truyền thuyết kể rằng, những phong tục này đều mang ý nghĩa sống lâu và tăng tuổi thọ. Nói về những phong tục này, phải nói từ những năm đầu Đông Hán. Tương truyền, có năm vào dịp tết trùng dương, Tào Phi cùng bạn bè thưởng ngắm hoa cúc, uống rượu, đeo cỏ thù du, và nói rằng: “Năm qua tháng lại, bỗng lại đến ngày mồng 9 thang 9, số 9 là số dương, mà ngày tháng ứng với nhau, tục gọi tên đẹp, cho rằng thích hợp với trường cửu, nên tổ chức cho người cao tuổi gặp nhau”. Đoạn văn trên của Tào Phi đã nói rõ cho chúng ta biết, gọi là tết trùng dương vì “cửu cửu hài âm thành “cửu cứu”, cho nên “làm đẹp cái tên của nó”. Lên đài cao, ăn bánh có mối liên hệ như thế nào với tăng thêm tuổi thọ?

Kỳ thực, trong dân gian có nhiều cách nói liên quan tới lịch sử của tết trùng dương. Theo ghi chép trong Tục Tế hài ký, Hoàn Cảnh, người Nhữ Nam, thời kỳ Đông Hán bái tiên nhân để tu đạo. Một ngày, tiên nhân nói với Hoàn Cảnh rằng: “Ngày mồng 9 tháng 9 này, Nhữ Nam có họa nóng. Người chỉ cần bảo mọi người khâu 1 chiếc túi, trong túi có cỏ thù du, sau đó treo lên cánh tay, mang theo chiếc túi vải ấy lên đỉnh núi uống rượu hoa cúc thì có thể tránh được họa này”. Sau khi về nhà, Hoàn Cảnh làm theo lời của tiên nhân, quả nhiên tránh được họa nóng. Từ đó về sau ngày mồng 9 tháng 9 hằng năm, mọi người đều lên đài cao, vui chơi, đeo cỏ thù du, uống rượu hoa cúc, tránh nóng, sống thọ. Sau này, cỏ thù du biến thành “tích tà ông” (tên gọi khác của cỏ thù du), hoa cúc biến thành “diên thọ khách” (vị khách giúp kéo dài tuổi thọ). Tuy nói uống rượu hoa cúc là đeo cỏ thù du là phong tục trong tết trùng cửu, nhưng phong tục uống rượu hoa cúc ra đời sớm hơn tục đeo cỏ thù du. Khuất Nguyên từng viết trong Ly Tao: “Sáng sớm uống rượu sương sa từ cây mộc lan. Chiều tối ăn hoa rơi của cây cúc mùa thu”. Không giống với những loài hoa khác, hoa cúc nở vào tháng 9 đúng thời gian sương lạnh về. Trong cả mùa thu, hoa cúc càng lạnh càng khoe sắc. Thấy hoa cúc chống lại sương và coi thường cái lạnh như vậy, người xưa cảm thấy ăn và uống đồ làm từ hoa cúc cũng có thể mạnh mẽ giống loài hoa này. Về sau, rượu hoa cúc trở thành loại rượu thuốc giúp trường thọ.

Mối liên hệ giữa tết trùng dương và văn hóa thọ thời cổ chủ yếu là sống thọ. Sau này, cùng với sự mong cầu người già trong nước sống thọ hơn, tết trùng cửu được chính thức cho là tết của người già. Từ đó, tết trùng cửu trở thành ngày tết kính lão, nội dung văn hóa thọ trong tết trùng cửu cũng thêm phần phong phú và sâu sắc hơn. “Xa trong anh em lên núi cao, ngắm cánh thù du được mấy người”, tết trùng cửu trở thành một trong những ngày tết truyền thống của người Trung Quốc, đồng thời là ngày tết đoàn viên. Đương nhiê, nếu con cháu có thể đoàn tụ, vui vẻ trong ngày tết này thì cũng là sự an ủi và nhớ tới công lao của đấng sinh thành.

Nguồn:
Tet trung cuu tet trung duong