Nguồn gốc sự tích truyền thuyết ông thần Thọ

Thứ năm , 01/12/2016, 04:11 GMT+7
     

Văn hóa thọ Trung Quốc phát triển như thế nào?

Văn hóa thọ Trung Quốc bắt nguồn từ việc sùng bái thần linh. Trong giai đoạn manh nha, văn hóa thọ coi vu sư, vu thuật là chỗ dựa, mạng đặc trưng phi lý tính sâu sắc và in đậm chủ nghĩa thần bí. Thời xuân thu, hình thức cầu thọ, chúc thọ mang đậm màu sắc mê tín đã đạt tới cao trào. Sau thời kỳ Chiến Quốc, Bách gia chư tử hưng khởi, văn hóa thọ bắt đầu xuất hiện sự phân chia. Khi ấy, văn hóa thọ xuất hiện khát vọng sống trường thọ của các bậc đế vương, sự ngưỡng mộ đối với những bậc sống thọ, sự kính sợ trước trời và thần linh, sự mê muội đối với đan dược bất tử. Con người mê muội tin rằng các thầy cúng có thể tự đo liên hệ giữa trời, thần linh và người. Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế tìm thuốc trường sinh chính là đại diện điển hình cho văn hóa thọ trong thời kỳ này.

Sau thời kỳ Bách gia chư tử hưng khởi, học thuyết Mạnh Tử được thịnh hành, đạo Trung dung sinh ra sự “tiết chế”, dạy mọi người bắt đầu khoa học dưỡng sinh hơn nữa, sau này nội dung kính lão trong tư tưởng Mạnh Tử còn trở thành nội dung trung tâm của văn hóa thọ. Đạo Trang Tử được tôn sùng rộng rãi, tư tưởng vô vi mà trị của Trang Tử sinh ra loại thái độ dưỡng sinh khoa học dựa theo tự nhiên. Đến cổ Trang Tử gõ chậu hát đã truyền tới chúng ta một loại thái độ lý tinh đối với sự sống và chết. Thái độ nhân văn của Bách gia chư tử đối với “thọ” khiến văn hóa thọ bắt đầu từng bước thoát khỏi bùn lầy mê tín, tiến tới con đường khoa học chính quy. Sau này, các tầng lớp xã hội, từ giai cấp thống trị cho tới người dân thường đều tôn sùng các thuật dưỡng sinh y học, như: Hoàng đế nội kinh, Thần nông bản thảo, Văn hóa thọ bước từ sùng bái thần linh ban đầu hướng tới con đường dưỡng sinh khoa học. Những sự học xuất hiện sau này, như: Khí công dưỡng sinh, dược vật dưỡng sinh, thức ăn dưỡng sinh, cung đình dưỡng sinh … đều là nội dung khoa học trong văn hóa thọ.

Một giai đoạn khác của văn hóa thọ Trung Quốc dựa vào tôn giáo. Vào thời kỳ Ngụy Tấn, tôn giáo thịnh hành, lý niệm dưỡng sinh kết hợp giữa Nho giáo và Đạo giáo cùng với kỹ thuật Đông y dưỡng sinh đã bắt đầu thông quan luyện linh đan, khí công điều chỉnh nhịp thở để sống lâu. Nghe nói, Lưu An có thế sống lâu chính nhờ uống linh dược mà mình luyện ra, “nhất nhân đắc đạo, kê khuyển thăng thiên” (một người đắc đạo, gà  chó cũng được lên trời). Trong thời kỳ ấy, Phật giáo cũng bắt đầu du nhập vào Trung Quốc, Phật giáo dưỡng sinh nghiên cứu tịnh tâm minh chí, đặc biệt dùng dòng Thiền tông Phật giáo thiền định trừ lự (thanh tĩnh xét tỏ chân lý để trừ bỏ phiền muộn) làm điển hình. Sau này, cho dù là dưỡng thọ hay dưỡng sinh, then chốt vẫn định ở dưỡng tâm.

Văn hóa thọ không chỉ kết hợp với Nhân văn học và Đông y của Trung Quốc mà còn từng bước tiến tới nội dung Tôn giáo học và Tâm lý học, có nội hàm bác đại tinh thâm, là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong văn hóa Trung Hoa.

Tết trùng dương ẩn chứa những văn hóa thọ nào?

Ngày tết ở Trung Quốc phong phú, tết trùng dương là ngày tết ý nghĩa kính lão và cầu thọ. Tết trùng dương bắt nguồn từ thời kỳ Tiên Tần, Kinh dịch viết: “Hào dương là cửu”, cho nên 2 hào cửu được định nghĩa là trùng dương.

Ngày tết trùng cửu có các phong tục chơi trên đài cao, thưởng ngắm hoa cúc uống rượu, đeo cỏ thù dư, ăn bánh ngọt, thả, hấp bánh. Truyền thuyết kể rằng, những phong tục này đều mang ý nghĩa sống lâu và tăng tuổi thọ. Nói về những phong tục này, phải nói từ những năm đầu Đông Hán. Tương truyền, có năm vào dịp tết trùng dương, Tào Phi cùng bạn bè thưởng ngắm hoa cúc, uống rượu, đeo cỏ thù du, và nói rằng: “Năm qua tháng lại, bỗng lại đến ngày mồng 9 thang 9, số 9 là số dương, mà ngày tháng ứng với nhau, tục gọi tên đẹp, cho rằng thích hợp với trường cửu, nên tổ chức cho người cao tuổi gặp nhau”. Đoạn văn trên của Tào Phi đã nói rõ cho chúng ta biết, gọi là tết trùng dương vì “cửu cửu hài âm thành “cửu cứu”, cho nên “làm đẹp cái tên của nó”. Lên đài cao, ăn bánh có mối liên hệ như thế nào với tăng thêm tuổi thọ?

Kỳ thực, trong dân gian có nhiều cách nói liên quan tới lịch sử của tết trùng dương. Theo ghi chép trong Tục Tế hài ký, Hoàn Cảnh, người Nhữ Nam, thời kỳ Đông Hán bái tiên nhân để tu đạo. Một ngày, tiên nhân nói với Hoàn Cảnh rằng: “Ngày mồng 9 tháng 9 này, Nhữ Nam có họa nóng. Người chỉ cần bảo mọi người khâu 1 chiếc túi, trong túi có cỏ thù du, sau đó treo lên cánh tay, mang theo chiếc túi vải ấy lên đỉnh núi uống rượu hoa cúc thì có thể tránh được họa này”. Sau khi về nhà, Hoàn Cảnh làm theo lời của tiên nhân, quả nhiên tránh được họa nóng. Từ đó về sau ngày mồng 9 tháng 9 hằng năm, mọi người đều lên đài cao, vui chơi, đeo cỏ thù du, uống rượu hoa cúc, tránh nóng, sống thọ. Sau này, cỏ thù du biến thành “tích tà ông” (tên gọi khác của cỏ thù du), hoa cúc biến thành “diên thọ khách” (vị khách giúp kéo dài tuổi thọ). Tuy nói uống rượu hoa cúc là đeo cỏ thù du là phong tục trong tết trùng cửu, nhưng phong tục uống rượu hoa cúc ra đời sớm hơn tục đeo cỏ thù du. Khuất Nguyên từng viết trong Ly Tao: “Sáng sớm uống rượu sương sa từ cây mộc lan. Chiều tối ăn hoa rơi của cây cúc mùa thu”. Không giống với những loài hoa khác, hoa cúc nở vào tháng 9 đúng thời gian sương lạnh về. Trong cả mùa thu, hoa cúc càng lạnh càng khoe sắc. Thấy hoa cúc chống lại sương và coi thường cái lạnh như vậy, người xưa cảm thấy ăn và uống đồ làm từ hoa cúc cũng có thể mạnh mẽ giống loài hoa này. Về sau, rượu hoa cúc trở thành loại rượu thuốc giúp trường thọ.

Mối liên hệ giữa tết trùng dương và văn hóa thọ thời cổ chủ yếu là sống thọ. Sau này, cùng với sự mong cầu người già trong nước sống thọ hơn, tết trùng cửu được chính thức cho là tết của người già. Từ đó, tết trùng cửu trở thành ngày tết kính lão, nội dung văn hóa thọ trong tết trùng cửu cũng thêm phần phong phú và sâu sắc hơn. “Xa trong anh em lên núi cao, ngắm cánh thù du được mấy người”, tết trùng cửu trở thành một trong những ngày tết truyền thống của người Trung Quốc, đồng thời là ngày tết đoàn viên. Đương nhiê, nếu con cháu có thể đoàn tụ, vui vẻ trong ngày tết này thì cũng là sự an ủi và nhớ tới công lao của đấng sinh thành.

Lễ chúc thọ bắt đầu từ khi nào?

Lễ chúc thọ bắt nguồn từ văn hóa kính trọng người lớn tuổi của Trung Quốc. Nói tới chúc thọ, không thể không nói tới đản sinh hoặc sinh nhật. Kỳ thực, khái niệm sinh nhật ra đời, lễ tục chúc thọ cũng theo đó mà sinh ra. Trong Kim văn và Giáp Cốt văn thời Thuong chu, chữ “lão” có “hình người già chống gậy”, chữ “thọ” được vẽ giống chiếc bát đựng đầy thịt. Hình tượng này phù hợp với bức tranh vẽ người già dâng thịt trong ngày sinh nhật ghi chép trong Lễ Ký. Cho nên, về sau, hình tượng này thành “lễ cầu thọ” điển hình. Liên quan tới nguồn gốc của lễ chúc thọ, còn cần nói tới tập tục kính lão đắc thọ thời cổ xưa.

Cuốn sách cổ Lễ ký trong thời kỳ Chiến quốc ghi chép: “Về chuyện chăm lo người lớn tuổi, có Ngu Thị dùng tiệc rượu để lễ, Hạ Hầu Thị lấy rượu với thức ăn để lễ, người Ấn dùng đổ ăn để lễ, người Chu kiêm dùng tất cả”. Điều nà thể hiển nét văn hóa kính lão không chỉ là phong tục dân tộc mà còn hính thức pháp luật mà người thống trị sử dụng để tăng thêm tính quy phạm và bảo hộ.

Căn cứ theo những ghi chép trong sách cổ, thời Tần Hán, vào tháng 3 mỗi năm đều cử hành lễ tạm lão ngủ canh” Đầu tiên, lựa chọn 3 người lớn tuổi có phẩm đức, mặc trang phục chỉnh tề. Vào ngày lành đã định sẵn, 3 người này cầm vương trượng (gậy như ý) mà hoàng đế ban cho, được xe ngựa xứ giả của hoàng đế đưa tới Thái học, Hoàng đế đích thân ra cổng nghênh đón và hành lễ ở Thái học, sau đó vào dự tiệc. Khi yến tiệc, các đại thần bày bàn, nâng giày cho 3 người này, Hoàng đế đích thân cắt thịt và rót rượu để cúng thần minh. Sau đó cầm thịt và rượu mời 3 bị lớn tuổi ăn. Phỏng theo phong tục trong triều đình, vào dịp tế tự mùa xuân và mùa thu hàng năm, các địa phương cũng cử hành lễ kính lão, gọi là “hương ẩm tửu”.

Không chỉ như vậy, triều đình còn ban bố pháp lệnh quy định bắt buộc người dân phải dưỡng lão và kính lão. Hán Vũ Đế đã ban bố mệnh lệnh, yêu cầu trăm họ phải nuôi dưỡng và kính trọng người có tuổi. Trong sắc chỉ còn nhắc tới: “Những người sống 90 tuổi trở lên sẽ được nhận chúc pháp”. Đương nhiên, trước khi Hán Vũ Đế ban bố pháp lệnh “dưỡng lão kính lão”, triều đình đã ban bố pháp lệnh các quan lại địa phương phụng dưỡng người trên 90 tuổi. Vương trượng chiếu thư lệnh tại Vũ Uy, Cam Túc đã quy định rõ ràng quyền lợi của người lớn tuổi. Những ưu tiên mà triều đình ban cho người lớn tuổi là nhân tính hóa, ví dụ, địa vị xã hội của người già tương đương hàng quan sử với lương bổng hàng năm là 600 thạch. Nếu làm nhục hoặc đánh đập người lớn tuổi sẽ bị chém đầu vì phạm tội ngỗ nghịch. Những người con một mà trong nhà có người già trên 80 tuổi sẽ được miễn lao dịch và binh dịch. Quan phủ phải phụ trách công việc chuẩn bị dưỡng lão, mặc trang phục tang lễ, đưa tang với những người trên 60 tuổi. Những ưu tiên này đương nhiên có kèm theo phần lý tưởng hóa, nhưng phần lớn nội dung đều thực tế, hơn nữa, dù như thế nào, chế độ này cũng gián tiếp thúc đẩy, xã hội hòn thành tập tục tôn lão kính lão. Chính vì ảnh hưởng của tập tục xã hội tôn lão kính lão này mà dân gian mới hình thành nên phong tục chúc thọ cho người lớn tuổi. Cùng với thời gian, nghi thức chúc thọ ngày càng hoàn thiện.

Mừng thọ và sinh nhật có gì khác biệt?

Dù là thọ thìn hay sinh nhật cũng đều mang ý nghĩa chúc mừng.  Sở dĩ chúng có tên gọi khác nhau là vì có sự khác biệt. Bình thường, ngày sinh của người trẻ chúng ta gọi là sinh nhật, không thấy người trẻ nào làm chúc thọ cho mình. Khi làm ngày sinh cho người lớn tuổi, không chỉ nghi thức trang trọng hơn, mà ngày sinh sẽ được gọi là “làm lễ mừng thọ”, thể hiện ý nghĩa vô cùng trang trọng. Kế theo phong tục truyền thống, chỉ có những người trên 60 tuổi mới có đủ tư cách làm lễ chúc thọ. Khi khánh thọ, người chưa tới 60 tuổi gọi là sinh nhật. Nếu chưa tới 60 tuổi mà muốn làm lễ chúc thọ thì không được gọi là lễ chúc thọ mà là “chiết thọ”.

Tại sao giới hạn giữa “thọ” và sinh nhật cần định ở 60 tuổi? xưa nay, Thiên can Địa chi là một vòng tròn. Nhìn từ góc độ dân gian, một người 60 tuổi mới đi qua 1 chu kỳ vũ trụ hoàn chỉnh, cho nên người trên 60 tuổi và người bình thường không giống nhau, họ bắt đầu thưởng thụ sự trọng đại giống với tổ tông. Cho nên, mỗi khi sinh nhật, họ thường nhận được những lời chúc của con cháu, nghi thức long trọng giống như tổ tông tiếp nhận sư lễ bái của con cháu. Ngoài ra còn có ý kiến cho rằng, một người bắt đầu hưởng thụ quyền lợi “thọ”, có nghĩa là cái chết của họ đang tới gần. Chính vì như vậy, các đồ dùng trong tang lễ dân gian Trung Quốc đều dùng chữ “thọ”: Quan tài gọi là “thọ tài”, trang phục liệm gọi là “thọ y”, linh đường gọi là “thọ đường”.

Thọ là lâu dài, ngụ ý là tuổi thọ dài lâu, từ chữ “thọ” chúng ta cầu được sống mãi mãi, nhưng ai cũng biết không có sự sống vĩnh viễn, khi bạn tới tuổi cầu “thọ”, cũng có nghĩa là cuộc sống của bạn sắp kết thúc. Cho nên, lễ chúc thọ, còn là sự báo cho lễ tục mai táng.

Tại sao gọi hành sơn là “thọ nhạc”?

Hành Sơn còn có thên là Nam Nhạc, Nam Sơn, Thọ Nhạc, là một trong Ngũ Nhạc của Trung Quốc. Nói tới cái tên “Thọ Nhạc” của Hành Sơn, ai ai cũng biết “thọ như Nam Sơn”. Đương nhiên, thọ như Nam Sơn cũng có lý do của nó, cho nên cái tên Thọ Nhạc được nói từ văn hóa Nam Sơn.

Hành Sơn là Thọ Sơn trong Ngũ Nhạc của Trung Quốc, vốn là địa thánh để cầu phúc và cầu thọ, văn hóa phúc thọ có lịch sử lâu đời. Có nhiều thư tịch cổ đại với những ghi chép và ban bố lịch sử liên quan tới việc Nam Nhạc là Thọ Nhạc: Xuân thu nguyên mệnh bao, Khai nguyên chiêm kinh, Xuân thu tinh phù, Bỉ trực Chu dịch, Đường thư thiên văn chí … chúng đều có ghi chép gọi Nam Nhạc là Thọ Nhạc. Theo những ghi chép trong Tinh kinh, Nam Nhạc Hành Sơn tương ứng với Chuẩn Tinh của Nhị thập bát tú, Chẩn Tinh cai quản tuổi thọ của nhân gian, cho nên Nam Nhạc có tê gọi là Thọ Nhạc. Cũng có truyền thuyết kể rằng, thủy tổ nhân văn của loại người, Nam Nhạc chu thần Chúc Dung Thị sinh sống ở Nam Nhạc Hàng Sơn, vì Chúc Dung Thị là thần cai quản phúc, lộc , thọ trong nhân gian, cho nên Nam Nhạc mới có tên là Thọ Nhạc.

Còn một nguyên nhân quan trọng khác, đó là trên đỉnh núi có nhiều đạo quán, chùa miếu, văn hóa tôn giáo, văn hóa dân tộc. Chúng cùng nhau phát triển, khiến Nhạc Sơn trở thành ngọn núi nổi tiếng có nền văn hóa lâu đời. Nhưng dù là tôn giáo, dân tộc hay văn hóa Nho giáo truyền thống, trong đó đều bao hàm sắc màu sống thọ và trường sinh. Cho dù là trường sinh, phúc thọ hay dưỡng lão, kính lão trong dân gian đều là nội dung văn hóa thọ của Trung Hoa. Cho nên, Hàng Sơn mới trở thành ngọn núi nổi tiếng, là ngọn núi tiên chúc thọ. Vào dịp tết mỗi năm, mọi người nối nhau tới đây để cầu chúc cầu thọ, hương khói nghi ngút và dòng người thành tâm vô hình tạo thành sự truyền kỳ của “Thọ Nhạc”.

“Ngũ phúc thọ vi tiên” là gì?

Trong thời kỳ Thương Chu, Trung Quốc đã hình thành nên nhận thức trường thọ là điều đầu tiên hạnh phúc trong nhân gian. Trong Thượng thư có cách nói “Ngũ phúc thọ vi tiên”. Ngũ phúc, thứ nhất là thọ, thứ hai là phúc, thứ ba là khanh ninh, thứ tư là tu đức tốt, thứ năm là khảo trung mệnh. Khổng Dĩnh Đạt, thời Đường đã viết: “Thứ nhất là thọ, tuổi ắt cao. Thứ hai là phú, gia đình sung túc. Thứ ba là khang ninh, không có bệnh tật. Thứ tư là tu hảo đức, người có đức tính tốt. Thứ năm là khảo chung mệnh, sống đến cuối đời, không chết yểu”. Chính là nói người xưa coi trường thọ quan trọng hơn cả tài phú, tinh thần, đạo đức. Điều này cũng có sự kỳ lạ, nếu không thể trường sinh thì tài phúc, quan tước, địa vị, danh dự cũng đều là hư không.

“Vạn phúc thọ vi tiên” trong văn hóa cổ đại Trung Quốc, thể hiện cao nhất chính là cách xưng hô của thần dân vói hoàng đế. “Vạn tuế” là kỳ vọng của hoàng đế xưa. Họ không tiếc tiền bạc đề tìm tiên hỏi được, kỳ thực, tiếng hô “vạn tuế” chỉ là âm thanh hô gọi kỳ vọng mà thôi. Cho dù bạn là bậc tôi hiền vua sáng tiếng thơm muôn đời hay là bậc hôn quân để lại tiếng xấu ngàn năm; cho dù bạn có tiền tài của cả thiên hạ, có địa vi tối cao và quyền lợi vô thường; cho dù bạn có thể lệnh cho muôn dân hô 2 tiếng “vạn tuế” thì trăm năm sau, bạn cũng chỉ là một nắm đất vàng mà thôi. Khi thọ hết, sinh mệnh mất đi, tất cả những thứ khác đều hóa thành con số không. Cho nên, ngũ phúc thọ vi tiên có thể trở thành một loại công thức, không chỉ vì ảnh hưởng của văn hóa thần kỳ cổ đại mà còn vì mọi người hiểu được tính quan trọng của sinh mệnh.

Lã Động Tân “cửu chuyển luyện đan” và thọ có nguồn gốc như thế nào?

Lã Động Tân là một trong Bát tiên, căn cứ theo ghi chép, trên lịch sử có nhân vật Lã Động Tân thật. Teho ghi chép trong Tống thị: “Lã Động Tân ở ẩn Quan Tây, có kiếm thuật, hơn 100 tuổi mà vẫn có hình dáng của một đứa trẻ, hành bộ nhanh như chướp, thoát cát đã được mấy trăm dặm. Thế gian cho rằng ông là thần tiên. Theo ghi chép trong thụ mặc đường ký, khi du chơi trong núi Lư Sơn, Lã Động Tân đã gặp Hán Chung Ly. Sau đó, Hán Chung Ly truyền cho Lã Động Tân phương pháp luyện đan, hai người cùng tu luyện thành tiên, làm nhiều việc tốt cho người ở Cửu Giang.

Tương truyền, khi ấy ở Lưu Sơn có hai con yêu quái giỏi dùng kiếm, mũi kiếm của chúng chỉ tới thành Tầm dương, vì vậy Tầm Dương có dịch bệnh hoành hành, người dân không thể sinh sống. Để cứu dân thoát khỏi tai họa, Lã Động Tân đã tới Lưu Sơn để thu phục hai con yêu quái, đồng thời thu cất bảo kiếm của chúng vào trong chiếc hộp quý. Yêu quái bị điệt trừ, dân chúng có thể yên ổn sinh sống. Lã Động Tân lại tận tay viết chữ “thọ” cao hơn 3 thước tặng người dân Cửu Giang cầu chúc cho người dân Cửu Giang nhiều phúc và thọ.

Nghe nói, bia chữ “thọ” phía sau điện Thuần Dương chính do Lã Động Tân viết khi đó. Chữ “thọ” lớn bằng chiếc đấu, thể chữ Thương cổ, nét bút xoay chuyển có thần. Đầu tiên nhìn chữ “thọ”, nhìn kĩ lại là chữ “đan”, ngụ ý là “cửu chuyển luyện đan”, thể hiện lời chúc sống thọ tốt đẹp của Lã Động Tân đối với người dân Cửu Giang/

Thiên văn học của Thọ tinh có nguồn gốc từ đâu?

Nói tới Thọ Tinh, chúng ta đều liên tưởng tới hình tượng của một tiên nhân, kỳ thực, người được gọi như vậy vì ban đầu Thọ Tinh vốn là một ngôi sao trong Thiên văn học. Căn cứ theo ghi chép trong Thông điển, vào thời nhà Chu, có chế độ tế tự Thọ Tinh vào xuân phân. Tư Mã Thiên cho rằng, Thọ Tinh là ngôi sao lớn ở Lang Tỷ, Tây Cung, gọi là Nam Cực Lão Nhân Tinh. Thấy nó thì thiên hạ sẽ an lành, nếu không sẽ xảy ra chiến tranh, thiên hạ đại loạn. Trương Thủ Tiết, thời Đường đã nói: “Một ngôi sao Lão nhân, gọi là Nam Cực, là chủ nhân cai quản tuổi thọ dài ngắn. Thấy nó thì mệnh nước được lâu dài. Gọi là Thọ xương, thiên hạ an lành. Nếu không thấy nó thì bậc quân chủ nhiều lo nghĩ”.

Vậy tại sao Nam cực Tinh là Thọ Tinh? Theo sự giải thích của Quách Phúc, thời Tấn, Thọ Tinh là 2 sao Giác và Cang trong Nhị thập bát tú. Giác và Cang là 2 vì sao đầu tiên trong 7 ngôi sao Thương Long phương Đông, “Giác, Cang đứng đầu trong các vì sao”. Chính vì vậy, Giác, Cang mới có tên gọi là “Thọ Tinh”. Vì 2 ngôi sao Giác và Cang thuộc hãng đầu tiên, cho nên chúng được coi là đại biểu của trường thọ, cách giải thích này có chút khiên cưỡng. Sau này, mọi người cho rằng Thọ Tinh có mối liên hệ với hoạt động nông nghiệp, tìm thấy Nam Cực Tinh sáng hơn cả Giác, đồng thời coi Nam Cực Tinh là Lão Nhân Tinh. Vị trí của Nam Cực Tinh chỉ lệch về phía Nam một chút so với Sao Giác. Thư tịch cổ ghi chép, nhìn thấy Lão Nhân Tinh thì thiên hạ thái bình, điều này cũng không phải là không có căn cứ. Nói từ góc độ Thiên văn học, Lão Nhân Tinh là long cốt tọa ở A, chỉ xuất hiện gần đường cuối chân trời khi trời trong xanh. Thu phân là mùa thu hoạch, vào mùa này chúng ta sợ nhất trời mưa. Nếu khi ấy có thể nhìn thấy Lão Nhân Tinh trời sẽ tạnh mưa, trong sáng không mây, có thể thu hoạch. Thời cổ, nông nghiệp là nghành nghề chính, trồng trọt thuận lợi, cuộc sống của muôn dân sẽ được ấm no, đương nhiên thiên hạ sẽ thái bình. Cho nên, tên gọi Thọ Tinh của Nam Cực Tinh cũng bắt nguồn từ đó. Thời cổ, khoa học kỹ thuật không phát triển, sự phát triển ra quy luật của Nam Cực Tinh là điều đáng trân trọng. Họ không có cách nào giải thích hiện tượng nay, chỉ có thể đem Nam Cực Tinh thành thần linh để sùng bái. Điều này cũng có thể hiểu được.

Văn hóa Thọ Tinh bắt nguồn từ khi nào?

Từ thời Chu, Tần cho tới Tống, Nguyên, tế tự Thọ Tinh trở thành điển lễ quan trọng của đất nước, đồng thời là phong tục quan trọng của dân gian. Triều đình nhà Hán đã đem tế tự Thọ Tinh kết hợp với hoạt động kính lão. Vào tháng 8 âm lịch hàng năm, triều đình “tế lễ Lão Thọ Tinh đến miếu thành đô”, đồng thời, tặng “vương trượng” và “cháo thọ” cho những người trên 60 tuổi, với những người trên 80 tuổi thì  “lễ sẽ nhiều hơn”

Vào thời kỳ Ngụy Tấn, tôn giáo thịnh hành, sự hưng khởi của văn hóa Đạo giáo khiến Thọ Tinh dần dần được nhân cách hóa. Thời Ngụy Tấn coi Nam Đẩu Lục Tinh là Thọ Tinh, sách Đạo giáo Thượng thanh kinh chia Nam Đẩu Lục Tinh thành Ti Mệnh tinh quân, Ti Lục tinh quân, Diên Thọ Tinh quân, Ích Toán tinh quân, Độ Ách tình quân, Thượng Sinh tinh quan. Đông thời mối tinh quân lại an trú ở Thiên Phù cung. Thiên Tương cung, Thiên Lương cung, Thiên Xu cung, Thiên Cơ cung. Dần dần, chúng ta chỉ nhớ Thọ Tinh sau sau khi được nhân cách hóa, mà quên đi tên gọi Thọ Tinh của Lão Nhân Tinh trong Thiên văn học.

Thọ Tinh có ảnh hưởng sâu sắc dân gian Trung Quốc. Trong Sưu thần ký của Can Bảo có ghi chép câu chuyện liên quan tới Thọ Tinh: Có người thanh niên tên là Nhan Siêu, 19 tuổi. Trên đường đi, Nhan Siêu va vào Quản Lộ - người có tài dự đoán như thần. Nhìn thấy Nhan Siêu, Quản Lộ vừa lắc đầu thờ dài và nói: “Thật tiếc thay!”. Nhan Siêu nghe thấy vậy liền hỏi tại sao, Quản Lộ trả lời: “Tôi nhìn thấy anh còn trẻ, vậy mà tới trua ngày mai đã chết rồi, cảm thấy đáng tiếc!”. Nhan Siêu nghe thấy vậy vội vàng cầu cứu. Quản Lộ bèn chuẩn bị cho Nhan Siêu một hộp thịt hươu khô, một bình rượu ngon, dặn buổi trưa ngày mai mang những vật này tới gốc cây dâu, trên núi Nam Sơn. Dưới gốc cây dâu ấy có hai người đang chơi cờ, dâng thịt và rượu cho họ, không cần nói, chỉ cần gật đầu, trong đó có một người có thể cứu người”. Ngày hôm sau, Nhan Siêu làm theo những gì Quản Lộ căn dặn, trong hai người ấy, một người lớn tiếng khiển trách, một người dịu lời thuyết phục. Nhan Siêu không nói lời nào, chỉ gật đầu. Sau khi về nhà, Nhan Siêu kể lại cho Quản Lộ. Quản Lộ cười và nói: “Ngươi thật may mắn, họ là hai vị tinh quân Nam Đẩu và Bắc Đẩu. Nam Đẩu quản việc sinh, Bắc Đẩu quản việc chết, qua sự sắp xếp của Nam Đẩu, bây giờ ngươi có thể sống được 90 tuổi”. Không chỉ riêng Sưu thần ký, Tây Du ký và Bạch xà truyện đều xuất hiện hình tượng Thọ Tinh. Đương nhiên, mỗi lần xuất hiện, Thọ Tinh đều cứu mạng người.

Những ghi chép trong các tác phẩm truyền thuyết dân gian, văn học, lịch sử, hình tượng Thọ Tinh sau khi được nhân cách hóa có rất nhiều, hình tượng phổ biến là trán lồi to, khuôn mặt hòa ái, cầm cưu trượng, được người đời gọi là “Nam Cực Tiên Ông”. Ngoài ra, Lão Tử, Bảnh Tổ, Vương Mẫu nương nương, Ma Cô … cũng thường xuất hiện dưới hình tương Thọ Tinh.

Có những truyền thuyết nào liên quan tới Nam cực tiên ông?

Nam Cực Tiên Ông còn có tên là Nam Cực Chân Quân, Trường Sinh Đại Đế, Ngọc Thanh Chân Vương, là một trong chín người con của Nguyên Thủy Thiên Vương, vì ông chủ về tuổi thọ nên lại có tên là “Thọ Tinh” hoặc “Lão Nhân tinh”. Truyền thuyết kể rằng, thường xuyên thờ phụng cúng tế Nam Cực Tiên Ông sẽ được khỏe mạnh và sống lâu.

Về lịch sử của Nam Cực Tiên Ông, dân gian có hai truyền thuyết. Truyền thuyết thứ nhất nói Nam Cực Tiên Ông là con của Nguyên Thủy Thiên Tôn. Theo ghi chép trong phần lời tựa của cuốn Cao thượng thần lôi Ngọc Thanh Chân Vương tử thư đại pháp, khi trời đất chưa được hình thành, vạn vật chưa được sinh ra, Nguyên Thủy Thiên Vương là “Tổ của Hạo Mãng Minh Luật Đại Phạm”, ngưng thần kết thai, kết thúc trạng thái hỗn độn của trời đát, khai thiên lập địa. Sau này, Nguyên Thủy Thiên Vương gặp được “Vạn Khí Tổ Mẫu thái Huyền Ngọc Thân Thần Mẫu”, “tới đại động Thượng Thanh, thực hiện đạo thư hùng tam nhất hỗn hóa”, sinh được tám người con, trong đó người con trai trưởng chính là Nam Cực Trường Sinh Đại Đế, cũng chính là Nam Cực Tiên Ông. Vị Nam Cực Trường Sinh Đại Đế không chỉ hành đạo tài giỏi mà còn là người vô cùng nhân hậu, ông nhớ tới sự khổ của chúng sinh trong thế gian, truyền đạo pháp tới thế gian. Truyền thuyết thứ hai cho rằng, Nam Cực Tiên Ông là con thứ chín của Nguyên Thủy Thiên Vương. Căn cứ theo những ghi chép trong Cao thượng Tửu Tiêu Ngọc Thanh đại phạm tử vi huyền đô lôi đình ngọc kinh, Nguyên thủy Thiên Vương “người con thứ chín là Thượng Thần Tiêu Ngọc Thanh Chân Vương Trường Sinh Đại Đế, chuyên chế Cửu Tiêu 36 ngày, thống lĩnh 36 đại tôn”.

Tại sao trán của nam cực tiên ông lại lớn?

Nam Cực Tiên Ông là Thọ Tinh cao nhất mà nhân gian biết, hình tượng của ngài rất thú vị, thân hình không cao, eo cong, lưng gù, một tay cầm gậy đầu rồng, một tay cầm đào tiên. Nhìn lại, diện mạo của ngài, mày dịu dàng, mắt hiền từ, nụ cười rạng rỡ, râu trắng bay dài quá eo, tóc bạc trắng mà có phong thái như trẻ con. Trong các tiên, Nam Cực Tiên Ông được gọi là vị tiên đặc biệt nhất, sự đặc biệt của ngài không chỉ ở hình tượng gần với con người mà còn có vầng trán rất lớn. Trong dân gian có nhiều truyền thuyết nói về lịch sử vầng trán của Nam Cực Tiên Ông.

Tương truyền, mẹ của Nam Cực Tiên Ông mang thai 9 tháng mà chưa sinh, bà vội vàng hỏi con trong bụng: “Con à! Tại sao con vẫn chưa ra ngoài?”. Thật kinh ngạc, đứa con trong bụng liền trả lời:  “Nếu đôi mắt của con sư tử đá ở trước cổng nhà chảy máu thì con mới ra ngoài”. Người mổ lợn ở ngoài vách nghe thấy, không biết do hiếu kỳ hay lòng tốt, liền dùng máu con lợn bôi lên đôi mắt của con sư tử đá. Mẹ của Nam Cực Tiên Ông nhìn thấy liền nói với con trong bụng, nghe thấy lời mẹ, nửa đêm ông chui ra khỏi bụng mẹ. Vì tháng mang thai chưa đủ, cho nên khi sinh ra, Thọ Tinh có chút kỳ lạ, trán lồi hẳn ra, đầu to lạ thường.

Chiếc trán lớn không những khôn glafm giảm hình tượng của Thọ Tinh, ngược lại, khiến ông trở thành người hiền hòa, đáng yêu và gần gũi với người dân, có thể coi đây là đặc điểm nổi bật nhất của Thọ Tinh.

Chiếc gậy của Nam Cực Tiên Ông có lịch sử như thế nào?

Nam Cực Tiên Ông là hình tượng một ông lão chất phác hay hình tượng một ông lão cầm gẫy. Tuy nhiên, vốn là một hình tượng tín ngưỡng, mà trong tay Nam Cực Tiên Ông lại có chiếc gậy, nên không thiếu sự huyền cơ. Từ khi nghi thức kính lão được nói tới ở thời Hàn, lịch sử chiếc cưu trượng (gậy khắc hình con chim cưu) đã được đề cập tới.

Căn cứ vào ghi chép trong Hán thư, thời kỳ lập ngôi vị, Hán Minh Đế đã chủ trì nghi thức tế tự Thọ Tinh, còn mở yến hộc đặc thù. Trong thời Hán bấy giờ, những người sống 70 tuổi, cho dù là quý tộc hay dân thường đều được mời tới dự tiệc và trở thành khách của Hán Minh Đế. Sau khi yến tiệc kết thúc, Hán Minh Đế biếu mỗi người một chút rượu, thịt, gạo và một chiếc cưu trượng làm thủ công tinh xảo. Căn cứ vào ghi chép trong Hậu Hán thư: “Vào tháng 8 âm lịch, những người sống 70 tuổi đều được nhận vương trượng và ăn cháo. Ơn huệ cho những người thọ 80, 90 tuổi nhiều hơn. Vương trượng dài 9 thước, đầu trang trí bởi hình con chim cưu. Chim cưu là loài không bị mắc nghẹn, ý muốn người già không bị nghẽn”. Ngụ ý của cưu trượng là người già không bị nghẹn khi ăn cơm, thân thể khỏe mạnh, mọi việc được như ý. Nhưng vì cưu trượng do triều đình ban cho, nên nó mang màu sắc chính trị nhât định. Lại vì triều Hán khi ấy có quy định, người 70 tuổi trở lên có thể được hưởng đặc quyền nhất định, cho nên chiếc cưu trượng mà Hán Minh đế ban phát trong buổi yến tiệc là vương trượng, tượng trưng cho một loại đặc quyền. Sau thời kỳ Ngụy Tấn, chiếc gậy của Thọ Tinh có sự thay đổi, chất liệu làm cưu trượng được quy định là gỗ của cây đào, như vậy công năng chính trị gáo hóa đã bị giảm đi. Nghe nói, sở dĩ cưu trượng được làm được làm bằng gỗ đào vì đó là loại gỗ có thể xua đuổi bệnh tật và tăng cường sức khỏe, tăng thêm tuổi thọ. Như vậy, vương trượng tượng trưng cho đặc quyền, đã trở thành vật may mắn trường thọ xua đuổi bệnh tật và tăng cường sức khỏe mà Thọ Tinh cầm trong tay. Vương trượng tượng trưng cho đặc quyền, đã trở thành vật may mắn trường thọ xua đuổi bệnh tật và tăng cường sức khỏe mà Thọ Tinh cầm trong tay. Vương trượng tượng trưng cho vương quyền dần dần được thay thành gậy đào tượng trưng cho sức khỏe, có nghĩa là màu sắc chính trị của Thọ Tinh cũng dần mất đi. Theo thời gian đàn thần tế tự Thọ Tinh trong triều đình truyền ra dân gian, trở thành thần tiên mang phẩm cách thế tục đầy đủ nhất trong thời cổ đại Trung Quốc.

Thọ Tinh và Tống Nhân Tông có nguồn gốc như thế nào?

Thọ Tinh mà chúng ta nói ở đây chính là hình người do Lão Nhân Tinh trên thiên giới hòa thành. Theo sách cổ ghi chép, ông chính là Nam Cực Tiên Ông. Nam Cực Tiên Ông vốn là người ôn hòa, lương thiện. Kỳ thực, ông lão từ bi, lương thiện này cũng có phương diện mà người không biết.

Tương truyền, vào niên hiệu Gia Hữu năm thứ tám, Bắc Tống có một ông lão, hình dáng như đạo sĩ tới từ Biện Kinh. Ông lão này có hình dáng đặc biệt, thân hình thấp bé, nhưng đầu chiếm phần lớn, dài gần bằng thân. Thân hình này vốn đã khác với người bình thường, cộng thêm việc đi nhẹ như gió, ung dung và mạnh mẽ. Hơn nữa, ông uống rượu rất giỏi, uống nhiều cũng không bị say. Tại Biện Kinh ồn ào náo nhiệt, ông lão này nhanh chóng trở thành tâm điểm bàn luận của mọi người. Một số kẻ bị hiếu kỳ tới gần vẽ tranh cho ông. Tước sự việc kỳ lạ ấy, ông lão không hề thay đổi sắc thái, nét mặt bình thản. Theo thời gian, có rất nhiều câu chuyện liên quan tới ông lão này đến tai các thị vệ bên cạnh Hoàng đế. Họ liền kể những mẩu chuyện cóp nhặt về ông già không rõ lai lịch cho Hoàng Đế. Sau khi nghe xong, Tông Nhân Tông có hứng thú, lập tức phái các thuộc hạ đi tìm và mời ông lão đó về cung, sai họ dâng cho ông già một hũ rượu. Khi nhìn thấy nhiều rượu ngon, ông già liền cao hứng nhảy múa, bên hũ rượu, uống cạn một hơi. Cơ thể bỗng tràn đầy sức sống của ông lão biến thành một võ sỹ trung niên dũng mãnh. Hình dáng mất hết vẻ già nua, khiến Tống Nhân Tông và các thị vệ kinh ngạc. Sau khi uống hết bảy đấu rượu, từ bên cạnh nhà vua, ông lão lặng lẽ lùi lại phía sau, trong chốc lát đã không thấy bóng dáng, khiến những người chứng kiến vô cùng ngạc nhiên. Hôm sau, quản viên đột nhiên tới bẩm báo: “Hôm qua, sau khi bên cạnh nhà vua, Lão Thọ Tinh trên trời đã biến mất không thấy bóng dáng, tới hôm nay cũng không thấy tung tích”. Nghe lời bẩm báo, Tống Nhân Tông nghĩ: “Lẽ nào ông già hôm qua là Lão Thọ Tinh”.

Nếu coi ông lão tự do tự tại này là Lão Thọ Tinh sẽ hiến nhiều người cảm thấy khó hiểu. Nhưng trên thực tế, với tinh thần tự do, tự tại, nhân phẩm thiện lương, dù không phải là thần tiên, việc trở thành Thọ Tinh của bạn không còn là xa với nữa.

Người sống thọ nhất trên thế gian là ai?

Luận ngữ ghi chép, Tử viết: “Ta chỉ thuật  (đạo của cổ nhân) mà không sáng tác, tin vì thích (kinh điển cổ nhân), ta trộm ví của ông lão Bành của ta:. “Lão Bành” chính là Bành Tổ, đem Bành Tổ liên kết với “thích kinh điển của cổ nhân”, có thể thấy tuổi thọ của Bành Tổ rất lớn. Theo những ghi chép trong Thần tiên truyện, Bành Tổ “Cuộc đời Ân, Bành Tổ đã được 767 tuổi, nhưng không lộ sư yếu ớt của người già. Điềm tĩnh, không xót thương những việc chính trị, không quản việc danh dự, không chú trọng hình thức bên ngoài, chỉ lấy dưỡng sinh làm nghiệp”. Bành Tổ có sức ảnh hưởng lớn đối với lịch sử Trung Quốc. các nhà tư tưởng thời Tiên Tần, như: Khổng tử, Tuân Tử, Lã Bất Vi .. đều có những lời bàn luận liên quan tới Bành Tổ. Trong nhiều chương, Trang Tử có nhắc tới đạo lý trường thọ của Bành Tổ: “Bành Tổ đắc chi, thượng cấp hữu Ngu, hạ cấp hữu Ngũ Bá”, có nghĩa là, sau khi Bành Tổ đặt được đạo trường thọ, ông sống được hơn 800 tuổi, từ thời Ngu tới thời đại Ngũ Bá.

Vậy Bành Tổ có những đạo dưỡng sinh nào? Cổ nhân có nhiều nghi vấn. Trong Trang Tử viết: “Hít thở sâu, nhả hơi cũ, hít vào hơi mới, đu mình như loài gấu, duỗi mình như loài chim để sống lâu. Đó là cách thức kẻ sĩ đạo dẫn và luyện thân thể được sống lâu như ông Bành Tổ”. Trang Tử cho rằng, đạo trường thọ của Bành Tổ chính ở phương pháp dẫn khí để dưỡng sinh. Trong Tuân Tử cũng giảng Bành Tổ là người “trị khí dưỡng sinh”. Sau này, Đạo giáo xuất hiện và thịnh hành, các nhân sĩ Đạo giáo liền coi Bành Tổ là tiên nhân của Đạo giáo, thân thế và cuộc đời của ông cũng vì vậy mà trở nên phong phú. Cát Hồng, danh nhân trong Đạo giáo đã miêu tả tường tận sự tích cuộc đời của Bành Tổ trong thân tiên truyện.

Thương trụ và Bành Tổ có nguồn gốc như thế nào?

Bành Tổ sinh vào thời Ngu, tới thời Thương, ông đã được 760 tuổi, vậy mà da dẻ vẫn hồng hào, phong độ phi phàm, không có chút yếu đuối nào của người già. Khi ấy, vào giai đoạn Trụ vương nhà Thương châp chính bạo ngược. Sau khi nghe về Bành Tổ, Thương Trụ liền dùng mọi kế sách hỏi Bành Tổ về bí quyết trường thọ. Thương Trụ nghĩ ra một cách, ông phái một cung nữ ở hậu cung tên là Thái Nữ tới nơi Bành Tổ sông để bí mật theo dõi. Tuy nói Thái Nữ là một cung nữ nhưng không phải người bình thường. Tương truyền, khi ấy Thái Nữ đã được 270 tuổi, nhưng nhìn bền ngoài khoảng 40, 50 tuổi. Thái Nữ cũng có khả năng dưỡng sinh, chỉ có điều chưa giỏi như Bành Tổ. Thái Nữ vận dụng những hiểu biết của mình kết hợp với những lời của Bành Tổ và đã hiểu một cách tổng quát về bí quyết trường thọ. Nuôi dưỡng tinh lực, ăn uống dược thải, ngoài ra con hiểu thuật phong trung. Bành Tổ còn nói với Thái Nữ những điều cốt yếu trong thuật phong trung, pháp phục khí, cho tới đạo dẫn thổ nạp. Sau khi biết được bí quyết, Thái Nữ quay về bẩm báo với Thương Trụ, Sau khi biết bí quyết,  Thương Trụ thử vận dụng và thấy hiệu quả. Muốn một mình nắm giữ bí quyết, Thương Trụ hạ lệnh giết chết nếu ai truyền pháp đạo của Bành Tổ, sau khi nghe được tin, Bành Tổ vội vàng chạy trốn. Lúc ấy mới 770 tuổi, có thể thấy được rằng Thương Trụ không thể giết Bành Tổ. Việc Bành Tổ chết như thế nào vẫn là một điều bí ẩn.

Tại sao không dùng nhiều tranh vẽ Bành Tổ khi chúc thọ?

Bành Tổ là thần tôn của Đạo giáo, chính là tượng trưng cho trường thọ trong dân gian. Bức tranh vẽ ông đã xuất hiện từ triều Minh. Nhưng người vẽ lại không hiểu vì lý do gì mà hình tượng Bành Tổ lại có những đặc điểm: Mày rậm, mắt nhỏ, đầu trọc, râu đen, tay cầm chiếc cưu trượng. Hình tượng xác thực có chút không phù hợp với thẩm mỹ của mọi người. Đại khái vì ông có tính cách bình tĩnh vô vi, tu thân, dưỡng tính. Vị thần trường thọ này trong sự trầm tĩnh lại lộ rõ vẻ ngờ nghệch. Loại hình tượng không chút sức sống của Bành Tổ thật khác xa so với hình tượng sáng lạng của Nam Cực Tiên Ông. Cho nên ngày nay, khi chúc thọ người già, hầu như mọi người không sử dụng tranh vẽ Bành Tổ, mà đại bộ phận sử dụng tranh vẽ Nam Cực Tiên Ông. Không chỉ vì tranh vẽ Nam Cực Tiên Ông phù hợp với quan niệm thẩm mỹ của người Trung Quốc, treo trên tường rất đẹp mà quan trọng là so với Bành Tổ, Nam Cực Tiên Ông tràn đầy sức sống hơn, phù hợp với hình tượng trường thọ trong tâm của người Trung Quốc.

Vương Mẫu nương nương có phải là nữ thọ tinh?

Phần lớn mọi người biết tới Vương Mẫu nương nương thông qua những câu chuyện trong truyền thuyết, như: Tây du ký, Ngưu Lang Chức Nữ, Trần Hương cứu mẫu … Trong những câu chuyện hay thần thoại truyền thuyết, Vương Mẫu nương nương không phải hình tượng chính diện, có những tính cách cường bạo ngang ngược, bảo thủ cố chấp, thậm chí có chút hung tàn, vậy tại sao Vương Mẫu nương nương vẫn được xếp vào hàng các vị tiên? Đương nhiên, Vương Mẫu nương nương trong những câu chuyện thần thoại này đều là hình tượng chế giễu tầng lớp thống trị hoặc quyền thế phong kiến. Chỉ vì có địa vị cao trong hàng tiên mới trở thành đại diện cho giai cấp thống trị và bị văn nhân các đời phê phán.

Vương Mẫu nương nương là nữ thần trong thần thoại cổ đại, cũng là tiên nữ lãnh tụ của Đạo giáo. Theo những ghi chép trong điển tịch, Vương Mẫu nương nương ở giữa nhân thú và nhân thần, nắm “dịch bệnh và hình sát trong thiên hạ”. Vì vậy có thể thấy hình tượng Vương Mẫu nương nương trong phim truyền hình và những câu chuyện thần thoại còn có cơ sở nhất định, không chỉ là một quái thần, mà Vương Mẫu nương nương còn là một vị thần hung ác. Nhưng sau thời kỳ Lưỡng Hán, hình tượng Vương Mẫu nương nương đã có chút thay đổi. Trong Hán Vũ cố sự và Hán Vũ Đế nội truyện. Vương Mẫu nương nương là hình tượng hòan toàn khác: 30 tuổi, khí chất ung dung quý phái, dung nhan tuyệt trần. Cưỡi tử xa ra ngoài tuần du, ngọc nữ hộ giá, thanh điểu hộ vệ, có mây lành vây quanh, hiện trình cảnh tượng vô cùng tuyệt vời.

Những ghi chép trong điển tịch triều Hán, không chỉ hình tượng của Vương Mẫu nương nương thay đổi mà ngay cả chức năng của bà cũng thay đổi. Vương Mẫu nương nương không còn là hung thần cai quản dịch bênh và hình phạt, quyền quản lý chủ yếu của bà là ban phúc, hơn nữa còn trở thành hình tượng trường thọ. Nghe nói, sở dĩ Vương Mẫu nương nương trở thành thần cát tường tượng trưng cho trường thọ, vì bà nắm quyền cai quản thuốc bất tử ở núi Côn Luân phương Tây. Theo những ghi chép trong Sơn Hải kinh, phía Bắc Khai Minh núi Côn Luân có cây bất tử, còn có tên là thọ thụ, quả chín của nó có thể giúp con người trường sinh bất lão. Truyền thuyết kể rằng, sau khi uống thuốc bất tử Hằng Nga bay lên cung trăng và trở thành thần tiên. Thuốc bất tử của Hằng Nga được lấy từ chỗ của Vương Mẫu nương nương. 

Những truyền thuyết liên quan tới phật vô lượng thọ

Văn hóa tôn giáo được thể hiện nhiều nhất trong văn hóa thọ của Trung Quốc. Vì Đạo giáo là tôn giáo được sinh ra tại Trung Quốc, dung hợp và tập trung rất nhiều văn hóa bản địa Trung Quốc. Cho nên, nhiều thần tiên được dân gian kính phụng đều là thần tiên Đạo giáo. Nam Cực Tiên Ông, Vương Mẫu nương nương, Bành Tổ … đều là những nhân vật thần tiên đem lại trường thọ trong Đạo giáo. Kỳ thực, không chỉ Đạo giáo, trong Phật giáo cũng ó vị Phật tượng trưng cho trường thọ, đó chính là Phật Vô Lượng Thọ.

Phật Vô Lượng Thọ được dịch ý từ Phật A Di Đà, có hai tầng nghĩa là khổng gian vô tận và tuổi thọ vô tận. Gai trì niệm danh hiệu của Phật A Di Đà, tăng cường tu tập thúc tuệ thiện văn, tự có thể mở ra pháp môn thế giới Cực Lạc. Tương truyền, thế danh của Phật Vô Lượng Thọ là Chu Bảo, pháp danh là Toàn Chân, hiệu là Tông Tuệ, sinh ở Trình Thủy, Sâm Châu.

Nguyên nhân chính khiến Phật Vô Lượng Thọ trở thành Phật Thọ dduowng nhiên là do tuổi thọ của ngài cao. Tuy có nhiều ghi chép liên quan tới tuổi của Phật Vô Lượng Thọ, nhưng cuối cùng vẫn không biết được tuổi chính xác của ngài. Theo Tương Sơn Chí, Phật Vô Lượng Thọ “Pháp lạp là 166 tuổi”. Quảng Tây thông chí, Đại Thanh nhất thống chí ghi chép Phật Vô Lượng Thọ sống 140 tuổi. Trong khi đó, Hồ Nm thống chí và Huệ Châu phủ chí lại ghi chép Phật Vô Lượng Thọ sống 132 tuổi. Tuy những ghi chép về tuổi của Phật Vô Lượng Thọ không thống nhất, nhưng việc ngài mất ở Tranh Sĩ Viện, núi Tương, Toàn Châu, Quảng Tây, vào ngày mồng 10 tháng 2 niên hiệu Hàm Thông năm thứ tám nhà Đường là chính xác. Vì Toàn Chân là người sống thọ nhất được ghi chép trong lịch sử Trung Quốc, nên mọi người tôn ngài làm “Phật Thọ”.

Giống các nhân vật truyền kỳ khác, sự sinh ra của Phật Vô Lượng Thọ cũng không bình thường. Tương truyền, một ngày, mẹ của Toàn Chân nằm mơ thấy một vị thần nhân một tay cầm bảo châu ma ni vàng từ trên trời giáng xuống. vị thần ấy vào trong phòng, nhập vào bụng của bà rồi biến mất. Sau khi tỉnh dậy, bà liền mang thai và sinh ra Toàn Chân. Nghe nói khi còn nhỏ, mặt Phật Thọ như chiếc chậu, tai to như chiếc quạt, gầy gò như thanh củi, thân hình và dáng đi đều không giống với người bình thường. Khi được 16 tuổi, Toàn Chân xuống tốc theo Phật tại chùa Khai Nguyên, phía Tây Bắc thành Sâm Châu. Sau khi học thành, vân du tứ phương, truyền đạo và thụ nghiệp. Vào niên hiệu Thiên Bảo năm thứ mười nhà Đường. Toàn Châu bắt đầu trụ ở chùa Nhạn Phong, Hành Dương. Khi rời đi, Toàn Chân để lại bài kệ: “Mây bay, người tu hành ngộ được chân và không, áo cà sa của các Phật vạn đại tông. Những người tu hành trên chùa núi lưu lại nhưng không ở, 500 năm sau sẽ quay về Nhạn Phong”. Tới đây, những người trong tôn giáo gọi là “hoạt Phật đạo trường”. Tương truyền, sau khi viên tịch Toàn Chân thường hiển linh ở Tương Nam. Vào thời Minh thường xuất hiện ở khu vực Hành Châu. Tới thời Thanh lại chuyển thế thành cao tăng, truyền kinh ở chùa Nhạn Phong. Vì vậy mới có truyền thuyết “sinh ở Sâm Châu, chết ở Toàn Châu, thành Phật ở Hành Châu”, “nổi gió ở Sâm Châu, trời u ám ở Toàn Châu”, “500 năm sau chuyển sinh về Nhạn Phong” của Phật Thọ

Ma cô là người như thế nào?

Trong thời cổ, việc chúc thọ cho cụ ông và cụ bà có sự khác nhau. Chúc thọ cho cụ ông cần treo tranh thần nam Thọ Tinh, chúc thọ cho cụ bà cần treo thần nữ Thọ Tinh. Mọi người đều biết, thần nam Thọ Tinh gồm: Nam Cực Tiên Ông, Bành Tộ … thần nữ Thọ tinh gồm Vương Mẫu nương nương, và Ma cô.

Ma Cô là nhân vật trong thần thoại của Đạo giáo, sự tích về bà sớm xuất hiện trong tác phẩm Thần tiên kỷ của Cát Hồng. Trong đó ghi chép Ma Cô là vị tiên nữ có móng tay giống loài chim, tu đạo Ma Cô là vị tiên nữ có móng tay giống loài chim, tu đạo ở núi Cô Dư, Đông Nam Mâu Châu, khoảng 18, 19 tuổi, dung mạo như hoa. Vì Ma Cô được được gọi là “đã nhìn thấy Đông Hải ba lần biến thành ruộng dâu”. Cho nên thời cổ thường lấy Ma Cô ví với sự trường thọ. Thần tiên truyện ghi chép nhiều câu chuyện màu sắc liên quan tới Ma Cô nhưng thân thế của vị tiên nữ này lại không rõ ràng. Đời sau có nhiều câu chuyện về thân phận của Ma Cô¸theo những ghi chép trong Thái bình quảng ký, Ma Cô là người thời Hán Vũ Đế, Đông Tấn. Sau này, vì ăn thịt rắn “nôn ra máu mà chết”.

Cho dù thân thế của Ma Cô có nhiều hỗn tạp nhưng vẫn có một câu chuyện thấm đãm tình người: Cách đây 1600 năm, ở phương Bắc Trung Quốc có chính quyền nước Triệu, lịch sử gọi là
“Hậu Triệu”. Hậu Triệu có quan viên tên là Ma Thu, tính cách hung dữ và nóng nảy, vô cùng tàn ác. Tuy Ma Thu còn có biệt danh xấu là Chiêu Trứ, nhưng lại cso một cô con gái tốt bụng. Người con gái ấy chính là Ma Cô. Ma Cô thường chỉ xinh đẹp nhà còn vô cùng lương thiện. Ma Thu muốn trong thời gian mình nắm quyền, sẽ xây thành trì. Bởi vậy, hắn lệnh cho nhân công ngày đêm làm việc, tới khi gà gáy mới cho nghỉ ngơi một lát. Sau mấy ngày đã có nhiều người bị chết do làm việc quá sức. Trước cuộc sống khổ cực mà người dân chịu đưng, Ma Cô vô cùng thương xót, bèn khuyên cha hãy khoan dung một chút. Ai ngờ rằng, Ma Thu không những không nghe mà còn mắng Ma Cô một trận. Thấy việc khuyên cha không có hiệu quả. Ma Cô muốn nghĩ cách giúp mọi người có nhiều thời gian nghỉ ngơi. Khi ấy, người cai quản phán đoán ngày đêm qua tiếng gà gáy. Do đó, mỗi ngày vào lúc nửa đêm, Ma Cô thức dậy, nhẹ nhàng chạy tới công trường bắt chước tiếng gà gáy. Người cai quản nghe thấy tiếng gà gáy nghĩ trời sáng liền cho người làm nghỉ. Thời gian trôi đi, người cai quản phát hiện ra sự việc có điều mờ ám, bèn cho người theo dõi và nhanh chóng phát hiện ra việc Ma Cô. Vì Ma Cô là con gái của chủ nhân, đương nhiên không dám tự ý xử phạt, bèn đem chuyện báo với Ma Thu. Sau khi biết chuyện, Ma Thu đùng đùng nổi giận, cầm kiếm muốn giết chết Ma Cô. Dân công biết Ma Cô vì họ mới bị trách phạt nên giúp nàng chạy trốn lên núi. Ma Thu đuổi tới núi, nhưng không sao tìm thấy, bèn hạ lệnh châm lửa đốt. Ma Cô lương thiện đã bị thiêu trong núi, Tây Vương Mẫu ngồi trên vân xa đi ngang qua, nhìn thấy hạ giới lửa cháy liền biến hóa ra trận mưa dập tắt đám cháy. Sau này, Tây Vương Mẫu mới biết nguyên do sự tình, liền khen ngợi Ma Cô có tuệ căn và thu làm học trò, lại cho nàng tu hành ở ngọn núi phương Nam. Căn cứ theo ghi chép trong Phủ Châu Nam Thành huyện Ma Cô sơn tiên đàn ký của Nhan Chân Khanh: “Theo Đồ kinh, huyện nam Thành có núi Ma Cô, đỉnh núi có chiếc đài cổ, tương truyền Ma Cô đắc đạo ở đó”.

Ma Cô hiến thọ là chuyện gì?

Ma Cô tu đạo thành tiên có liên quan tới Vương Mẫu nương nương, Ma Cô trở thành Thọ Tinh cũng vậy.

Truyền thuyết kể rằng, ngày mồng 3 tháng 3 chính là ngày đản sinh của Vương Mẫu nương nương, thiên hạ sẽ mở đại hội bàn đào. Khi ấy, các thần tiên đều tới dự. Ngày 3 tháng 3 năm ấy, 4 vị tiên hoa là Bách Hoa, Mẫu Đơn, Thược Dược, Hải Đường rủ Ma Cô cùng ddi. Tới thiên đình, các tiên hoa đều dâng hoa thơm của mình làm lễ vật, còn Ma Cô lại dâng rượu thọ mà mình nấu bởi nước suối và linh chi. Khi mở hủ rượu ra, hương thơm ngào ngạt khiến các vị thần tiên đều say đắm. Một vài vị tiên hiếu kỳ nhìn thấy giọt rượu ngon tin kết trong hũ rượu của Ma Cô giống như nước trong suối linh, vô cùng đẹp đẽ, thấm đượm dư vị thơm ngon. Sau khi uống rượu của Ma Cô, các vị tiên đều hết lời khen ngợi, Vương Mẫu vô cùng vui mừng, lập tức phong Ma Cô là Hư Tịch Xung Ứng chân nhân. Đây chính là sự tích “Ma Cô hiến thọ”, chính nhờ vào danh hiệu này mà Ma Cô trở thành Thọ Tinh. Sở dĩ Ma Cô hiến thọ nhận được khen ngợi, vì không thể phủ nhận rượu ngon mà Ma Cô làm ra. Nói tới rượu ngon mà Ma Cô nấu có một vài tên gọi. Tương truyền, núi Ma Cô có 13 con suối sâu thẳm, nước trong, có vị ngọt. Cuộc sống trên núi của Ma Cô vô cùng vui vẻ, thuận lợi cho việc tu luyện. Nàng đã dùng nước suối trong núi và linh chi để nấu thành rượu linh chi. Sau 13 năm, Ma Cô tu luyện thành tiên, rượu linh chi cũng nấu xong. Linh chi vốn là vật bổ dưỡng sinh tốt nhất. Trong thời cổ, nó là thần phẩm nấu rượu, hơn nữa một lần nấu kéo dài 13 năm. Rượu mang tiên khí ấy nhất định có sự phi phàm nên khi thưởng thức nó, các thần tiên mới hết lời khen ngợi.

Bát tiên khánh thọ là chuyện gì?

Bát tiên 8 vị tiên nhân đắc đạo được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, bao gồm: Thiết Quải Lý, Hán Chung Ly, Trương Qủa Lão, Hà Tiên Cô, Lam Thái Hòa, Lã Đông Tân, Hàn Tương Tử, Tào Quốc Cửu. Liên quan tới truyền thuyết về Bát tiên, ngoài truyện “bát tiên quá hải”, còn có “bát tiên khánh thọ”. Bát tiên vốn là thần tiên trừng trị điều ác, khen ngợi điều thiện, giúp đỡ người khó khăn. “Già có Trương, trẻ có Lam, Hàn, chỉ huy có Chung Ly, thư sinh có Lã, phú quý có Tào, quyền lực có Lý, phụ nữ có Hà”. Bát tiên phần nào phản ánh các độ tuổi của con người trong xã hội, nam nữ già trẻ, phú quý bần cùng, văn sĩ tướng võ, khỏe mạnh thương tàn, đáp ứng hết nhu cầu tôn bái các giai tầng trong xã hội. Bát tiên có được sự yêu mến của  dân gian, bức tranh Bát tiên khánh thọ trở thành vật phẩm may mắn không thể thiếu trong ngày khánh thọ.         

Tương truyền, Vương Mẫu nương nương mở yến tiệc vào ngày này, thiết hội bàn đào, mời các vị thần tiên tới tụ họp. Thiết Quản Ly hẹ các tiên nhân Lã Động Tân, Trương Quả Lão, Lam Thái Hòa, Tào Quốc Cửu, Hà Tiên Cô … tới dự yến tiệc. Sau khi ăn uống no say, họ bái lạy Vương mẫu và cùng quay về vượt biển. Sau khi bát tiên lên thuyền, Lã Động Tân đột nhiên nghĩ ra ý tưởng kỳ lạ, đề nghị mọi người cùng đi chu du thiên hạ. Thế là xuất hiện câu chuyện “Bát tiên vượt biển, thể hiện thần thông”. Cho dù là bức tranh Bát tiên khánh thọ hay bức tranh Bát tiên quá hải đều không thể thiếu những pháp khí mà Bát tiên sử dụng. Nghe nói, mỗi pháp khí của Bát tiên lại mang một hàm nghĩa nhất định: Bảo vật ngư cổ (trống cả) của Trương Quả Lão có thể nói về mạng sống của con người. Bảo kiếm của Lã Động Tân có thể ngăn cản tà ma. Chiếc sáo của Hàn Tương Tử có thể khiến vạn vật sinh sôi nảy nở.  Hoa sen của Hà Tiên Cô có thể tu thân dưỡng tính. Hồ lô của Thiết Quản Lý có thể cứu giúp chúng sinh. Chiếc quạt của Hán chung Ly có thể hồi sinh. Tấm ngọc của Tào Quốc Cửu có thể làm môi trương trong sạch. Chiếc giỏ của Lam Thái Hòa có thể quảng thông thần minh. Những pháp khí mà Bát tiên sử dụng được gọi chung là Ám Bát tiên. Ám Bát tiên không chỉ có ngụ ý tốt đẹp, phù hợp với nhu cầu tâm lý bái thần cầu Phật của dân gian mà còn tô điểm cho truyền thống của người Trung Quốc. Vì vậy, trong thời hiện đại ngày nay, chúng ta có người lớn tuổi. Hơn nữa, khi bố trí thọ đường để chúc  thọ người già, người ta thường dùng bức tranh Bát tiên khánh thọ.

Hội bàn đào là chuyện gì?

Liên quan tới hội bàn đào, mọi người đều rất quen thuộc với đoạn Tôn Ngộ Không đại náo hội bàn đào trong Tây du ký. Đương nhiên, Tôn Ngộ Không trong Tây du ký là người đầu tiên đứng ra chống lại phong kiến và đặc quyền. Hội bàn đào cũng tượng trưng cho đặc quyền của giai cấp thống trị. Nhưng hãy tạm bỏ qua nhân tố chính trị, trên thực tế, hội bàn đào là loại thịnh hội tượng trưng cho sự cát tường. Tranh hội bàn đào chúc thọ thường xuất hiện trong các buổi tiệc chúc thọ lớn nhỏ trong dân gian.

Mọi  người đều biết rằng, Vương Mẫu nương nương là thủ lĩnh thần tiên của Đạo giáo, cũng là nữ Thọ Tinh nhận được sự chào đón của mọi người. Hội bàn đào là yến hội do Vương Mẫu nương nương tổ chức, các thần tiên đều tới tham dự, tiên khí tự  nhiên bao trùm, mây lành vây quanh. Treo một bức tranh hội bàn đào lên tường lễ bái, giống như quy tụ được các thần tiên về  để lĩnh thụ lòng thành của chúng ta. Đương nhiên, danh tiếng của hội bàn đào không chỉ dừng lại ở đó, sở dĩ hội này lấy bàn đào để đặt tên vì có chỗ đặc biệt. Nhưng nhìn vườn bàn đào của Vương Mẫu nương nương tươi tốt, từng cây từng cây, hoa nở khắp cây, quả chín trĩu cành, cảnh tượng hái quả của các tiên nữ khiến chúng ta khó có thể diễn tả hết được vẻ đẹp nơi tiên cảnh. Nghe nói bàn đào do Vương Mẫu nương nương chính tay vun trồng, “có 3600 cây, phía trước có 1200 cây, hoa nhỏ quả nhỏ, quả 3000 năm mới kết quả một lần, người ăn vào sẽ thành tiên, khỏe mạnh trẻ trung. Ở giữa có 1200 cây, hoa nở thành tầng, quả ngọt, 600 năm mới kết quả một lần, người ăn vào thì cưỡi mây đạp gió, trường sinh bất lão. Phía sau có 1200 cây, màu tím, hạt màu vàng nhạt,  9000 năm mới kết quả một lần, người ăn vào sẽ sống thọ như trời đất, tuổi như mặt trăng mặt trời”. Cho nên nói, bàn đào không phải đồ ăn tầm thường, là vật báu không có ở phàm trần. Nghĩ lại, Vương Mẫu nương nương là Thọ tinh, cai quản việc luyện thuốc bất tử ở núi Côn Luân, do vậy bàn đào mà bà trồng mới có thể trường sinh bất lão, điều này có thể hiểu được. Sở dĩ hội bàn đào có khí thế lớn như vậy, ngoài vì địa vị tối cao của Vương Mẫu nương nương, còn có công năng giúp người sống trường thọ của bàn đào.

Nguồn:
Su tich ong than nguon goc ong than tho truyen thuyet ong than tho